Để cái tôi không sục sôi

Lượt xem: 3063
7/12/2018 0:00 - Chuyên đề
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - Bài KTS Huân Tú ảnh Trường Ân

Trong quá trình làm nhà, từ khâu thiết kế đến lúc thi công, hầu như ai cũng có lúc bị động chạm vào “cái tôi” của nhau. Tôi là gia chủ tôi có quyền, nhà tôi tôi ở, cứ làm theo ý tôi đi, tôi chịu. Hoặc “tôi là nhà thiết kế chứ không phải người vẽ theo ý ông”, hay “tôi đi làm thầu 30 năm nay tôi rành vấn đề này hơn”... đủ kiểu.

 
 
Kết quả của những “cái tôi” ấy khi va chạm nhau thường chẳng vui vẻ tốt đẹp gì. Nhẹ thì một bên thiệt thòi, rút lui, làm theo ý riêng của mình, mà nặng thì lôi nhau ra chốn pháp đình.
Làm sao để những cái tôi không sục sôi, làm sao để quá trình làm nhà đôi bên cùng có lợi, là chuyện không dễ lý giải dưới các góc độ từ chuyên môn đến ứng xử, thậm chí cả khía cạnh gọi là “đạo đức nghề nghiệp” mà giới kiến trúc xây dựng gần đây cũng đang tranh luận sôi nổi.
Trước hết cần nói ngay khái niệm “cái tôi” trong phạm vi bài viết không đề cập về cá tính hay tư cách tốt xấu của cá nhân, vốn là chuyện riêng và bất khả xâm phạm, giống như trình độ, thu nhập, địa vị, sức khỏe… Xin được phép giới hạn “cái tôi” ở đây trong mối quan hệ chung khi làm nhà. Các nghiên cứu về tâm lý và xã hội học hiện đại diễn giải cái tôi được phân thành 3 cấp độ chính. Một là quan niệm về bản thân (self-concept) luôn thay đổi đáng kể từ thuở mới sinh ra, sau đó hình thành lăng kính xem xét những thứ không phải-là-tôi (not-self). Hai là lòng tự trọng (self-esteem) chỉ về bạn cảm nhận ra sao về cái tôi của bạn và bản sắc xã hội (social identity) chỉ về sự thể hiện của cái tôi của bạn ra thế giới. Ba là yếu tố tự tin vào khả năng bản thân (self-efficacy), nó liên quan đến cảm nhận về năng lực của mỗi người trong bối cảnh xã hội cụ thể.
Trong 3 khía cạnh chính ấy, cái tôi cấp độ 1 là quan niệm về bản thân (self-concept) biến đổi theo mức độ trưởng thành, mà như cha ông ta hay nói nôm na “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” là bước đi hợp lẽ trong đời người. Làm nhà khi còn trẻ trâu thì chỉ ngọ nguậy lung tung cho có vẻ sành điệu, làm nhà sau khi trải qua thực tế hôn nhân thì ít nhiều cũng tích lũy các kinh nghiệm. Nói cách khác, cái tôi trong góc nhìn từ kinh nghiệm bản thân không ảnh hưởng nhiều đến các bên khi tham gia thiết kế, thi công. Nó chỉ là các trải nghiệm cá nhân và người khác có thể dễ dàng chia sẻ, đồng cảm, hoặc tiếp thu và chuyển hóa thành giải pháp cụ thể. Đây là cái tôi mang tính cá nhân và không chi phối nhiều thành bại của một dự án.
 
Từ em đẹp thì em có quyền…
Cái tôi cấp độ 2, lòng tự trọng (self-esteem) nằm ở 3 lĩnh vực chính mà con người có xu hướng đánh giá cái tôi là: ngoại hình, năng lực và những mối quan hệ xã hội. Đây là cách phổ biến hiện nay mà đa số giới chuyên môn và gia chủ thường thể hiện, khẳng định và đánh giá bản thân lẫn người khác, từ đó hình thành cách ứng xử. Có thể dễ dàng nghe những câu chuyện về một anh chủ đầu tư quán bar, Kevin X. Nguyễn nào đó là nghệ sỹ thị giác, đẹp trai nam thần, du học về, nói chuyện sang chảnh, hẹn gặp ở các nơi giới thượng lưu lui tới, gửi file cho ảnh xem trước, bản vẽ concept nhớ ghi song ngữ Anh - Việt… Tâm lý chung là chính các nhà thiết kế (nhất là giới trẻ) hay ngầm so sánh, ngưỡng mộ hoặc tự xây dựng hình ảnh của mình theo các tiêu chí mà mình đánh giá người khác trong tối thiểu là 3 lĩnh vực kể trên: ngoại hình của mình trông thế nào nhỉ? Mình đang làm công việc có hấp dẫn, lương tốt không? Mình có nhiều lượng like và kết bạn trên mạng xã hội không? Những câu hỏi đó thậm chí “ám ảnh” không ít nhà thiết kế và người quản lý công ty thiết kế, nhất là khi họ phải tiếp xúc với nhóm khách hàng được-cho-là-thượng-lưu. Có những công ty chỉ cử bạn trai xinh gái đẹp nào đó ở bộ phận marketing hoặc sales đi gặp khách hàng, vì chính công ty chê ngoại hình và kỹ năng tiếng Anh của bạn thiết kế không cao, trong khi buổi làm việc chỉ nói về chuyên môn giữa người Việt với nhau mà thôi! Khi chính nhà chuyên môn còn bị cái tôi của khách hàng lấn át và cuốn hút theo như thế, thì có thể thấy các ý kiến chuyên môn sẽ lép vế thế nào, và những mâu thuẫn ngấm ngầm trong công việc ngày càng nảy sinh. Thực tế tuy chưa thống kê nhưng người viết bài đã nhận phản hồi từ sinh viên ngành thiết kế kiến trúc - nội thất ra trường khoảng 70% làm không quá 3 tháng ở một công ty nào đó rồi nhảy việc khác. Lý do phổ biến nhất là: tại vì em thấy công ty toàn bắt em đi tiếp khách (nếu em đó thuộc diện trai xinh gái đẹp) hoặc bắt em ngồi cày máy tính và sửa đủ thứ yêu cầu phi lý của khách hàng (nếu em đó không sắc nước hương trời và kỹ năng giao tiếp yếu). 
Ở cái tôi thứ hai, kết hợp quan niệm về bản thân và lòng tự trọng sẽ dẫn đến sự phát triển của bản sắc nhóm xã hội (social identity) nơi những cái tôi đó chung sống. Chúng ta từng nghe nói đến kiểu con gái miền A chiều chồng hết mực, hay cách “bán hàng mà như đuổi khách” ở thành phố B, đều không phải tự nhiên mà có, đa phần được “nuôi dưỡng” trong nhóm những cái tôi cụ thể. Thậm chí có công ty thiết kế C nhất quyết không làm cho khách hàng là dân ở vùng H vì đã từng “chịu đòn” nhiều lần cái cách ứng xử đặc trưng của người vùng đó. Về mặt khoa học tâm lý hành vi, đây là những khủng hoảng về bản sắc xã hội, cụ thể có 2 kiểu khủng hoảng chính. Kiểu thứ nhất chỉ về sự thiếu hụt, khi những giá trị mà người đó lưu giữ trước đây bị từ chối, bị xâm phạm, khiến người đó rơi vào tình thế không thể đưa ra quyết định. Người viết bài đã từng làm việc với khách hàng là công chức nghỉ hưu đã lâu, ông luôn lo sợ ngôi nhà sẽ xây của ông sẽ bị rút ruột theo kiểu công trình ngân sách, ông không tin ai và thậm chí không tin rằng làm nhà xong thì sẽ có một không gian sống khác trước. Cuối cùng, công ty thiết kế đành làm cho ông một ngôi nhà đúng kiểu ăn chắc mặc bền như trước đây ông đang ở, nó giản đơn hết mức và thực sự nhạt nhòa, e ngại mọi thứ, đúng như chủ nhân của nó. 
Kiểu khủng hoảng khác đến từ sự xung đột giữa các mặt đối lập với bản sắc xã hội của một cá nhân. Ví dụ, chị Y sau khi ly hôn muốn xây lại ngôi nhà cho mấy mẹ con phải thật khác biệt so với những gì trước đây chị từng ở với chồng cũ. Chị luôn cố gắng hoàn thành nhiều mục tiêu đối lập nhau, ví dụ nhà phải sang trọng nhưng tiết kiệm, mở bung hết cỡ nhưng phải an toàn… Thái độ của chị làm việc gây áp lực mạnh lên công ty thiết kế, đến nỗi các kiến trúc sư thấy chị làm nhà như để… trả thù chồng cũ, để chứng tỏ không có đàn ông thì tôi vẫn ổn, chứ không quan tâm về chuyên môn. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, tùy từng trường hợp, sự biến động đột ngột về gia đình, bản thân và bản sắc xã hội của một người dẫn đến họ thay đổi thái độ ứng xử để tồn tại.
 
Mọi công trình kiến trúc để thành hình và tồn tại luôn cần đóng góp của biết bao cá nhân và tập thể, không thể chỉ qua vài “cái tôi” đơn lẻ
 
Đến những người ảo tưởng sức mạnh
Cái tôi ở cấp độ 3 (self-efficacy) có khởi đầu rất tích cực, đó là cảm nhận về những năng lực, khả năng của riêng của mỗi người. Cảm nhận này mang lại một niềm tin rằng ta hoạt động hiệu quả ra sao, self-efficacy của bạn càng cao thì bạn càng làm tốt công việc nói chung hoặc mọi vấn đề phải giải quyết nói riêng. Thái độ này liên quan đến giáo dục và nền tảng văn hóa ứng xử của một người. Một cảm nhận và kiểm soát về khả năng bản thân tốt giúp tăng thành công vì nó khiến người đó kiên trì hơn, tự tin hơn. Dĩ nhiên, mặt trái ở đây chính là chuyện người có self-efficacy cao thì có bị ảo tưởng quá đáng về sức mạnh bản thân hay không. Liệu có thể đánh giá hoặc đo lường self-efficacy của một người không? Giới chuyên môn tâm lý chỉ ra hai cách: một là đối chiếu những thành tựu của một người làm được với những thành tựu mà họ khao khát, mong mỏi, hoặc hai là so sánh những sự khác nhau giữa những cái tôi thực tế của họ (actual self) và những cái tôi lý tưởng của họ (ideal self).
Ví dụ cụ thể trong trường hợp chị Y ở trên, công ty thiết kế đã biến những buổi gặp gỡ trao đổi về công việc thành buổi tâm tình chia sẻ. Công ty thay thế kiến trúc sư ban đầu (một trung niên thành đạt vợ con đề huề) bằng một nữ kiến trúc sư có chuyện gia đình trắc trở. Chị em gặp nhau, từ đồng cảm đến đồng hành, từ chuyện nhà chị qua chuyện nhà em, các vướng mắc về chuyên môn trước đó tưởng chừng không gỡ nổi nay thành đơn giản, nhẹ nhàng. Việc ngầm so sánh giữa những điều gia chủ mong ước và những điều họ có thể làm được đã chỉ ra cái chênh lệch, cái bất khả thi mang tính khách quan, để đôi bên tìm điểm chung khi làm việc, chứ không phải bình luận xem phương án thiết kế nào hay dở, hoặc tranh cãi đến cùng về một yêu cầu có vẻ phi lý của gia chủ. 
Ở phía người làm chuyên môn, hiện nay với sự trợ giúp đắc lực của truyền thông mạng xã hội, đã xuất hiện không ít công ty/ nhóm thiết kế/ người thiết kế hành xử theo kiểu phô trương sức mạnh bản thân. Công ty V là hàng đầu trong lĩnh vực kiến trúc xanh, công ty M chuyên làm nhà cho đại gia, kiến trúc sư H chỉ lấy thiết kế phí từ đơn vị ngàn đô trở lên… những danh xưng được cộng đồng mạng khoác lên và bản thân họ tự nhận, dần trở thành “chuẩn mực” trong mắt của nhà thiết kế trẻ, thành chủ đề cho những trao đổi bên lề lẫn chính thức theo kiểu “Làm thế nào để khởi nghiệp thành đạt ở lĩnh vực thiết kế?”. Bên cạnh chiêu trò PR, quảng bá thương hiệu một cách lộ liễu, đa số khán giả tham dự những buổi chia sẻ kiểu đó đều có nhận định chung là… nổ banh trời, khủng bố tinh thần anh em trẻ mới vào nghề! Hiện tượng này thực ra không mới trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển từng chứng kiến nhiều thế hệ có cái tôi “sục sôi” kiểu vậy. Các nhà tâm lý học xem quan điểm “tôi là trung tâm” đó là những bộc lộ về thân phận con người muốn thoát khỏi vị thế thua kém. Nhà tâm lý học Carl Rogers năm 1961 từng đưa ra một lý thuyết về nhân cách dựa trên cái tôi, và từ đó đề ra luận điểm cho kiểu trị liệu tâm lý mà ông phát triển. Trọng tâm nghiên cứu của ông chỉ ra rằng: mục tiêu chính trong cuộc sống của con người thời hiện đại là duy trì cảm nhận về bản thân trong bất kỳ việc gì chúng ta làm để phát triển hướng đến sự thể hiện được đầy đủ tiềm năng của mình (self-actualisation). Rogers xác định một người thể hiện được đầy đủ và đúng đắn tiềm năng của mình có 5 đặc điểm chính:
1. Họ đã và đang phát triển đều đặn, vững chắc.
2. Họ cởi mở trước kinh nghiệm và không phòng vệ, họ xem những điều mới mẻ như là những cơ hội hơn là những vấn đề rắc rối.
3. Họ tin tưởng bản thân họ, tìm kiếm chỉ dẫn từ người khác nhưng đưa ra những quyết định của riêng họ.
4. Họ có những mối quan hệ hòa thuận với những người khác mà không có nhu cầu cần được mọi người yêu thích.
5. Họ sống hoàn toàn trong hiện tại, không chìm đắm trong quá khứ cũng như mong đợi tương lai. Điều này không có nghĩa là họ không lập kế hoạch, nhưng một khi họ lập ra bất kỳ kế hoạch nào, người thể hiện được đầy đủ tiềm năng của mình chỉ tập trung sống trong hiện tại.
 
 

Năm đặc điểm trên nếu thử soi chiếu vào một số nhà thiết kế mới đạt một vài giải thưởng nho nhỏ vài năm gần đây đã vội ảo tưởng về sức mạnh bản thân thì sẽ thấy rõ ràng các chỉ dấu nhận định sau đây: 
1. Một cá nhân thành đạt trong nghề kiến trúc - xây dựng không thể tách rời khỏi tập thể (nhóm, công ty), với sự trợ giúp của rất nhiều công đoạn từ kỹ thuật, thể hiện, đến quản lý và chăm sóc khách hàng, điều làm cho nghể kiến trúc khác với những nghề sáng tạo đơn lẻ khác. Các thiết kế hiện nay trên thế giới đều tuân thủ nguyên tắc khi xuất hiện trên truyền thông phải ghi rất chi tiết nhóm thiết kế và mọi bên liên quan như nhà thầu chính, phụ, điện nước… chứ không phải chỉ có mỗi tên kiến trúc sư chủ trì.
2. Một kiến trúc sư, nhà thiết kế biết điều không phải là người luôn nghe lời khách hàng, mà ngược lại, có sự phản hồi tích cực, ứng xử có văn hóa và tạo được dấu ấn cá nhân trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Trong bối cảnh xã hội chưa hoàn thiện các chuẩn mực tốt về đầu tư xây dựng thì thực tế công trình đưa vào sử dụng như thế nào sẽ là thước đo, chứ không chỉ là các bản vẽ lung linh hay hình ảnh đã được dàn dựng kỹ lưỡng nhằm sống ảo, PR.
3. Một số công ty, nhóm thiết kế đã “nói không với mạng xã hội” để hướng nhân viên và cả khách hàng thực sự giao tiếp ngoài đời với nhau trong tâm thế vì lợi ích chung chứ không chăm chút hình ảnh bản thân. Xử lý ngay các tình huống hiện tại, tôn trọng người khác, tránh công kích cá nhân… góp phần giảm bớt những “cái tôi sục sôi”, và từ đó hướng người làm nghề cũng như các bên liên quan vào chuyện chuyên môn.
Nghiên cứu tâm lý của Rogers cũng nhấn mạnh rằng: tất cả mọi người đều có một nhu cầu cơ bản là được quan tâm tích cực vô điều kiện. Chúng ta ai cũng khao khát tình yêu, sự thuộc về, sự thừa nhận và tung hô, cho dù ai cũng biết đó là điều không thể. Để dung hòa những cái tôi vô lối sục sôi trong quan hệ giữa các bên trong dự án thiết kế là điều không dễ. Thực tế hơn một chút, có lẽ cần học hỏi những gương thành công từ các doanh nghiệp luôn đặt quan điểm win-win lên hàng đầu khi thương thảo, luôn lấy quản trị bản thân và quản trị rủi ro làm tôn chỉ hành động. Nhưng câu chuyện về quản trị thì dường như với giới làm nghề kiến trúc - xây dựng vẫn còn nhiều xa lạ và nằm ngoài chuyên môn của họ.

 
Kỳ sau: Cái tôi trong thiết kế & quản lý chất lượng thiết kế
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 151