Mùa xuân năm đó, chuẩn bị đón năm 2000, một ý khác của Văn Cao được đưa lên bìa của báo xuân của tờ báo, đó là lời của ca khúc Bến Xuân: Nhà tôi bên chiếc cầu soi bóng, em đến thăm một lần, khi lũ chim rừng hợp đàn trên khắp Bến Xuân
Bao giờ cũng vậy, luôn có một mối liên kết thần thánh giữa một nơi ở, chốn ở cụ thể, một không gian kiến trúc cụ thể, với cái ảo diệu cao siêu của trời đất mà một tâm hồn tinh tế như Văn Cao đã cảm thấy: một mái nhà tầm thường, một con người nằm co ngũ, nhưng đừng tưởng chỉ có thế, trong cái góc ở nôm na, bình thường ấy đang có những giấc mơ miên viễn vươn tầm vũ trụ, đang có một mối liên kết siêu nhiên âm thầm nhưng hùng mạnh xảy ra.
Cũng thế, nhà tôi bên chiếc cầu soi bóng: chắc chỉ là một mái tranh nhỏ nhắn bên một dòng sông bình dị, nhưng một sự kiện giao duyên kỳ vĩ đã diễn ra: em đến thăm, lũ chim rừng hợp đàn…, đó là sự gặp gỡ của tình yêu, điều vĩ đại nhất của nhân loại đã hội tụ, và nơi đó không còn là một mái tranh vô tri giác, nó bỗng bừng nở niềm vui và trở thành một bến xuân rạo rực.
Từ đó, tôi luôn tin vào ý niệm “Spirit Of Place” (Cái thần của một nơi chốn), một ý niệm có sức mạnh được định nghĩa trong “Tuyên bố Québec về Bảo tồn Cái hồn của nơi chốn” (Quebec Declaration On The Preservation Of The Spirit Of Place) của tổ chức ICOMOS (viết tắt của International Council On Monuments and Sites tức Hội đồng Quốc tế về Những Kiến trúc biểu tượng và vị trí lịch sử): “Cái thần của một nơi chốn được hình thành từ các yếu tố vật thể (vị trí, kiến trúc, cảnh quan, con đường, đồ vật…) cùng các yếu tố phi vật thể (ký ức, những câu chuyện, những tài liệu, lễ hội, tưởng nhớ, nghi thức, kiến thức truyền thống, hoa văn, gấm vóc, màu sắc, mùi hương…), tất cả đóng góp to lớn để tạo ra một nơi chốn và cho nơi chốn ấy một linh hồn”.
Khi xây dựng một ngôi nhà, hay bất cứ một công trình gì, chúng ta đang tạo ra một không gian vật thể. Nhưng nếu chỉ chăm bẳm đến vật thể tính của không gian ấy, ta thấy kiến trúc bỗng như “vô hồn”. Ngôi nhà không ấm cúng, chiếc cầu đi qua chẳng ai chú ý, trường học không gây ra chút lưu luyến nào của tuổi học trò… Ngược lại, nếu tạo ra được một không gian vật thể có chỗ cho tính phi vật thể, cái hồn của nơi chốn ấy “móc vào”, nhập vào vật thể ta sẽ tạo được sự khác thường. Ai đã đọc tác phẩm đoạt giải Nobel văn chương của Ivo Andritch tựa đề Những chiếc cầu trên sông Drina đều cảm được cái hồn của vùng đất mà hai dân tộc Bosnia và Serbia “trú ngụ” qua dấu ấn những chiếc cầu tuyệt đẹp ở đây: chiếc cầu đá cổ cao vút qua những vực sông sâu bên trên là những khoảng sân rộng, lan can đẹp xây trên đỉnh cầu để chiều chiều mọi người lên đây đàm đạo, đánh cờ, bàn chuyện thế sự… và hàn gắn những vết thương của cuộc nội chiến tại vùng đất gặp nhau giữa hai tôn giáo: Ki-tô giáo và Hồi giáo này.
Mười lăm năm trước, có anh bạn Việt kiều Pháp, kiến trúc sư trẻ tốt nghiệp ở Paris, sau khi xây dựng xong ngôi trường cho trẻ em Pháp kiều đang sống ở Sài Gòn đã mời tôi tới tham quan. Nhiều chuyện hay về kiến trúc của một trường học Pháp hiện đại được anh giới thiệu, nhưng điều làm tôi cảm động nhất là khi anh trỏ một góc khuất hành lang trên lầu, nơi anh cố tình làm ban công rộng ra một chút và đưa ra dưới một tán cây êm mát, rồi nói: “Tôi tạo ra các góc khuất nên thơ này cho tụi trẻ nó hẹn hò tuổi học trò, đó là nơi mà tụi nhỏ sẽ nhớ nhung suốt đời như thời học trò của tụi mình vậy!”. Lạy trời, chính xác là như thế của tuổi học trò chúng tôi 40 năm trước, của anh bạn trẻ ấy 20 năm trước và của con cháu chúng ta sau này. Kiến trúc không phải chỉ là công năng, là đẹp, là tiện lợi… kiến trúc còn là để người ta yêu nhau, để tạo ra một “frame” hình vĩnh cửu của ký ức, để nhớ nhung bám víu đến ngàn sau.


Cái thần của một nơi chốn được hình thành từ các yếu tố vật thể (vị trí, kiến trúc, cảnh quan, con đường, đồ vật…) cùng các yếu tố phi vật thể (ký ức, những câu chuyện, những tài liệu, lễ hội, tưởng nhớ, nghi thức, kiến thức truyền thống, hoa văn, gấm vóc, màu sắc, mùi hương…)
Trong ký ức của mình hay ký ức của dân tộc qua thi ca, âm nhạc, chúng ta cũng gặp biết bao là vấn vương quanh cái hồn vía của một chốn đi về, và chúng ta không hề thấy ở đó sự sang trọng xa hoa, hào nhoáng, lâu đài, biệt thự…, ngược lại chỉ có thể là một thềm xưa, một nhà cũ, một hiên cúc vàng, một căn gác nhỏ nhưng ngập tràn hương thơm thoang thoảng của kỷ niệm, bao bọc âu yếm bởi cái phảng phất của tơ trời, của thanh tao, của vĩnh cửu…
Ai mà không biết lời ca dịu dàng, tràn ngập hối tiếc của nhạc sĩ Thanh Tùng trong bài “Giọt nắng bên thềm”.
Lâu lắm rồi em không ghé chơi
………
Hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi
Chim vẫn hót trong vườn nhà tôi
Môt sớm mai kia chợt thấy hư vô trong đời
Người vẫn đâu đây, người cũng đã như xa rồi
Hay căn gác nhỏ, trên đường về và bông hoa tường vi “lạc lối” giữa đêm khuya của Trịnh Công Sơn:
Một đêm bước chân về gác nhỏ
Chợt nhớ đóa hoa tường vi
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ
Giờ đây đã quên vườn xưa
…….
Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố xưa tôi về
Và với điệu chachacha vấn vương qua lời hát của Ý Lan bài “Chiếc áo thu phai” của Nguyễn Nghị:
Từ nơi xa tôi về qua lối mòn xưa
Tìm một người, tìm một hình bóng thân thương
Giờ đây ngôi nhà trong ngõ Quỳnh Hoa
Không còn ai, chỉ còn lại chiếc áo hoa phai… nhạt màu
Mùa đông 2011, mười ngày trước tết Nhâm Thìn tôi dành dụm được dăm ngày quay về Đà Nẵng thăm quê. Ướt át, sụt sùi điển hình của mùa đông xứ cũ làm lữ khách hơi chùn bước lang thang. Sáu giờ chiều, bất chấp mưa buồn nhớp nháp tôi lang thang đi bộ dọc theo đường Hoàng Diệu, vừa bước vào khung cảnh của Ngã Năm (một khu phố giao lộ quen thuộc của người dân Quảng Đà) thì một khoảnh khắc siêu việt hiện hình. Trời bỗng tạnh ngắt, khô ráo, ửng sáng, hiu hiu một cơn gió xuân chiều u ẩn đong đưa giữa đất trời. May thay, cảnh vật của khu Ngã Năm ấy không biết sao chưa bị nhà địa ốc nào đụng chạm nên gần y như cũ, và ở cái khoảnh khắc chạng vạng “twilight” giao thời giữa ngày và đêm đó, tôi như được cỗ máy trở ngược thời gian đưa về lại Ngã Năm của những năm 60, 70 vậy. Đúng y chang như thế, cái cột đèn nằm giữa giao lộ vẫn nhỏ bé thế, con đường đưa về phía rạp Lido xưa vẫn chậm chạp trở mình đong đưa thế, những căn nhà phố cũ xinh xắn góc đường Thành Thái nơi có nhiều người Hoa sống vẫn xinh xắn thế… Như bị một cú đụng đầu vào bức tường thời gian đến choáng váng và ở cái khoảnh khắc ấy tôi bỗng không còn chắc chắn rằng: quá khứ là cái đã mất hẳn và hiện tại là điều đang diễn ra! Tôi biết cái thần của khu phố ấy vẫn sống ở đó cho dù đã gần nữa thế kỷ trôi qua.
Lúc ấy chợt nhớ đến một cái gì đó tương tự thể hiện trong hai câu thơ của Chế Lan Viên:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Và tôi bỗng cầu mong những người làm nghề tạo tác những công trình cho cuộc đời đừng quên rằng: cái chúng ta xây nên không phải là gạch đá, vì khi có những số phận nương náu ở đó, theo dòng năm tháng, đất đá ấy sẽ hóa tâm hồn. Và đấy chính là điều quý nhất mà một công trình xây dựng tạo ra cho nhân thế này.
Trong ký ức của mình hay ký ức của dân tộc qua thi ca, âm nhạc, chúng ta cũng gặp biết bao là vấn vương quanh cái hồn vía của một chốn đi về, và chúng ta không hề thấy ở đó sự sang trọng xa hoa, hào nhoáng, lâu đài, biệt thự…
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 105 (2015)