Thềm xưa nắng rụng

Lượt xem: 1528
29/1/2021 0:00 - Nhà ở
Tác giả: Bài Trương Gia Hòa minh họa Leftstudio

Đôi khi, cả đất nước, cả quê hương, cả bao la lòng mẹ và máu mủ ruột rà, người ta có thể chỉ cần khoanh lại vẽ một vòng là đủ. Nó, ở ngay bậc thềm nhà và hai mét vuông đất, úp đầy vỏ nghêu nhung nhớ mà thôi.

 
1.
Chú tôi vượt biên sau ngày giải phóng vài năm khi tuổi đời chừng 25. Dĩ nhiên là có rất nhiều lý do nhưng cả gia đình tôi sau đó làm lý lịch đều khai với chính quyền là chú đi theo tiếng gọi ái tình, tức là theo thím tôi bây giờ. Lý do này là người ở lại nghĩ ra, để “nhẹ tội” gia đình có người vượt biên trái phép. Một phần cũng bởi từ trước giải phóng, bà và ba tôi đoán lờ mờ rằng chú và thím đã ngầm ý yêu nhau khi hai người còn học ở Sài Gòn. Lý giải chuyện ra đi, bất chấp mạng sống, bỏ lại cả một gia đình dài rộng yêu thương, lưu giạt qua hai ba trại tị nạn từ Philippines tới Thái Lan với muôn trùng cay cực, ngay cả chú, sau này bồi hồi nhắc lại, cũng tự thú là không thể giải thích được.
Hơn chục năm sau, khi nhiều Việt kiều rục rịch rồi rộn ràng hồi hương thăm thân nhân, bà tôi dường như nhớ chú quay quắt hơn. Bà nói thèm chú về một lần, cho bà ôm hun chú một cái, vò vò cái đầu tóc quăn một cái rồi bà có nhắm mắt cũng an lòng. Bà không muốn như ông, chôn cất xong ba tôi mới biên thư báo chú hay. Hai tuần, hay ba tuần sau nữa, thư đến, chú mới biết rằng mình đã mồ côi cha. Điều đó, theo lời chú, mãi mãi là một nỗi đau dai dẳng, cả trong vô thức. Dù vì bất cứ lý do chính đáng nào, nhưng vắng mặt phút giây phụ mẫu nhắm mắt lìa đời, vắng mặt ngày để tang cha, trong tâm thức người Việt mình, thì đó luôn luôn là một vết sẹo lớn của đời người. Bà không muốn chú có thêm cái sẹo nào nữa, chỉ cần chú về một lần, tự bà sẽ nói những điều cần nói, rằng bà hiểu xa xôi cách trở, rằng bà cho phép chú bỏ cái gánh nặng tâm linh ấy xuống, nếu lỡ bà có xuôi tay mà chú không về kịp. Rằng chú chỉ cần nhẹ nhàng, sống tốt là bà sẽ nhẹ nhàng, như một cánh bướm trên vườn địa đàng. Nhưng, thư qua thư lại, cả ba tôi và chú đều không ai dám đá động đến chuyện quay về của chú hay nhớ mong của bà. Ba tôi sợ gây áp lực thêm cho chú, chắc gì chú đủ khá giả mà xênh xang mua vé bay trở về. Vả lại, ba tôi cũng biết, chính chú chứ không ai khác mới là người cháy bỏng nhất cái ước muốn hồi hương. 
Cuối cùng chú đã về thật, sau 15 năm làm phận người Việt lưu vong. Không một thông tin báo trước cho bà, cho ba tôi, cho đại gia đình bên này. Từ phi trường Tân Sơn Nhất, chú thuê taxi chạy hơn 60 cây số về quê trên quốc lộ 22.
 

 
2.
Bữa đó trời nhá nhem tối, anh trai tôi vừa đi đá banh về, còn đứng tào lao với bạn bè trước ngõ thì thấy có một chiếc taxi cứ rà rà trước cổng. Đèn pha sáng trưng nên anh hơi tò mò. Rồi đèn tắt, taxi dừng hẳn. Chú tôi bước xuống, đứng xụi lơ, bất động, đăm đắm nhìn vào nhà. Chú không thấy anh vì trời tối, còn anh thì nhận ra chú ngay vì hình của chú, bà bày đầy mặt bàn kiếng ở giữa nhà. Trên tường, hai cái khung hình cỡ lớn cũng cơ man nào là hình của chú.
Như có người bật công tắc điện, anh tôi bắt đầu hả họng la sảng vì mừng. Nội nội ơi, nội nội chú về, chú tám về! Chú tám về trời ơi chú tám, há há ba ơi ba! (Hôm đó, anh trai tôi không hề bị la, bị vả miệng vì cái tội nói chữ “trời ơi”. Bà tôi luôn nói, đừng bao giờ kêu trời, cuộc đời này hễ động tí thì kêu ổng, ổng ghét, sau này thê thảm thật, kêu ổng ổng không nghe đâu. Hay là bữa đó vui quá, anh tôi kêu trời để “chia vui” nên được bà cho qua chắc?) 
Cả nhà rần rần, thình thịch chạy ra cổng. Chú chẳng quan tâm gì hành lý, hình như chú cũng chẳng thấy được ai. Ông tài xế taxi lẳng lặng xách hết đồ vô nhà, ba tôi nhanh nhẹn móc tiền trả để xe quay lại Sài Gòn. Bà tôi đi không vững, chống gậy run run đi từ nhà dưới lên. Mẹ tôi đi phía sau, liên tục nhắc bình tĩnh má bình tĩnh má! Chú tôi miệng ngoác cười với mọi người mà nước mắt ròng ròng. Không chào được ai, không nói được gì. Đến thềm nhà, chân chú không bước được nữa vì thấy bà. 
Bà đứng trên thềm, chú đứng thấp hơn một bậc, hai người ôm nhau mà khóc. Chú thì khóc như con nít, miệng lải nhải má ơi má khỏe không má, con nhớ má quá chừng! Trời ơi con nhớ má quá trời quá đất. Bà hoàn toàn im lặng, hun chú ba cái xong vò đầu tóc quăn của chú ba cái. Cứ vậy, hun ba cái vò ba cái. Mắt bà cũng nhòe nhoẹt nước. Ông anh tôi đếm được chín cái hun chín cái vò thì la lên, ngưng ngưng ngưng, tóc ổng rối nùi rồi kìa nội ơi! Cả nhà cười náo loạn!

3.
Những ngày sau, nếp sinh hoạt gia đình dần ổn định. Chú không xênh xang như những Việt kiều thời đó mà tôi biết. Đặc biệt là, mọi sinh hoạt, tiếp khách gì của chú và của đại gia đình những ngày “có Việt kiều về” đều diễn ra ở… thềm nhà. Chú nói ngồi ở đây cho mát. Buổi trưa, bà mang chiếu gối trải ra cho chú ngủ ở ngay hàng ba. Ngủ trưa dậy, cả nhà cũng xúm lại khu vực đó, bữa thì ăn chè, bữa thì ăn khoai mì luộc…  chuyện mười mấy năm vắng xa, dần dần lật vỡ, khi lắng đọng, khi hào hứng.
Bữa nọ anh tôi mua cả chục ký nghêu về luộc, đại gia đình ăn xong, chú giành phần dẹp vỏ nghêu. Mọi người không ai thắc mắc gì vì tính chú vậy, chuyện gì cũng muốn làm với mọi người, dù với “tư cách Việt kiều” chú không cần phải làm gì. Sáng hôm sau, có một bất ngờ cho mọi người, từ chú, khi toàn bộ số vỏ nghêu đêm trước đã được xếp cẩn thận, có hoa văn ngay thềm nhà. 
Chú nói nhớ ông ngày xưa cũng hay làm vậy để khi bước lên thềm, đất cát ít bám theo. Chú nói ở bên kia, chú cứ chiêm bao miết về cái thềm nhà úp đầy vỏ nghêu của ông. Nhớ nhà, nhớ ông bà, thì chú nhớ nhất cái thềm này, chỗ ngồi này. Đây là nơi ông hay ngồi chơi cờ tướng với con cháu còn bà thì ngồi làm khuy. Thật lạ lùng, dù bà là thợ may nhưng với chú, hình dáng bà ngồi bên máy may không làm chú bồi hồi bằng khi bà ngồi ở thềm nhà, cạnh ông, để đơm nút áo. Còn ông, ông đánh cờ rất giỏi nhưng đứa cháu nào cũng được đấu cờ với ông hết, sướng nữa là, đứa nào cũng được ông thả cho thắng vài trận, sướng tê người ở cái thềm nhà nắng rụng ấy. Hay vì thềm nhà có hoa, một chậu hoa forget me not màu tím buồn rười rượi mà thơm ngọt ngào? 
Hết phép, chú quay về bên kia, ba tháng sau, chú gửi về ít tiền, kêu ba tôi sửa lại nhà chút đỉnh, còn thì lát lại sân cho sạch. Ừ thì lát gạch, nhưng tuân theo lệnh bà, khoảng hai mét vuông ngay bậc thềm nhà, mấy anh thợ hồ cứ thắc mắc sao bà tôi lại biểu lấy vỏ nghêu úp lên xi măng. Trong khi, gạch ba tôi chọn đã đẹp gần chết!
Chuyện này, đúng là chỉ có “ông Việt kiều” bên kia và một túm nhỏ người trong nhà tôi hiểu nổi mà thôi. 
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 101

Các tin khác