Tết sẽ không là hoài niệm, cũng chẳng phải dự cảm. Tết là hiện thực dù với nhiều người những cái tết xưa giờ đã nhạt nhòa
Nhưng, với rất nhiều cư dân đô thị thì khác. Quê cũng là phố rồi, nên tết hay không tết thì cũng vẫn là không gian đó thôi. Trước tết thì hối hả “cày bừa” - nhịp sống nơi thành phố này khi nào chẳng nhanh tới phát dại - nói chi là cận tết. Khi tết tới thì có chăng là ít người, ít xe hơn một chút, khu trung tâm thành phố đẹp hơn một chút, nhưng lại thêm bao nghĩa vụ. Họ ngao ngán tết, chỉ muốn “trốn tết” qua những chuyến đi. Ra nước ngoài, ra biển, lên núi, miễn sao không phải ở thành phố trong những ngày nghỉ tết; xưa chỉ ba ngày, giờ đã kéo dài thành chín, mười ngày. Có lẽ Việt Nam là một trong số ít những quốc gia đón năm mới truyền thống trong một kỳ nghỉ dài tới vậy. Sao phải nghỉ tết nhiều tới vậy? Nghỉ ngơi để tái tạo năng lượng hay đơn giản chỉ là khuyến khích tiêu dùng, kích cầu du lịch? Dù lý do là gì, thì cũng như muôn vàn thứ trên đời này sẽ có người thích người không. Còn tôi thì chỉ thấy vui vì tết chưa mất đi, như đã bao lần tết bị đưa lên bàn cân soi xét, khiến sự lo lắng mơ hồ của tôi trở nên rõ nét hơn bao giờ hết.

Tết Sài gòn, có gì mà hay?
Tết phương Nam với tôi luôn là MÙA RỰC RỠ, kể từ cách đây mấy mươi năm khi còn ở thời tuổi trẻ bỡ ngỡ tới tận bây giờ. Tết đã từng rất khác. Tết thời ấy bắt đầu khi thấy chòm xóm nô nức kéo nhau ra bờ sông thả cá. Tới sở làm, câu chào nhau cũng khác: “Tiễn ông Táo chưa?”, đôi khi cũng là “Năm nay trái cây cũng đưa ông Táo về trời được nhe”. Tan sở, trăm thứ việc cũng phải ghé qua cho được chợ hoa xem năm nay có hoa gì lạ, lượn một vòng chợ Sài Gòn hay chợ Tân Định xem có món gì mới, mua đồ khô trước, cho tết đỡ vội. Toan tính coi bàn thờ năm nay chưng bông gì và ngũ quả sẽ bày sao cho đẹp mắt. Chưa làm được những việc đó là cứ thấy canh cánh trong lòng, đứng ngồi không yên, sợ tết đến mất. Cái lạnh của những tháng cuối năm dương lịch chắc cũng sợ tết, nên trốn đâu mất tiêu. Chỉ còn thuần một màu nắng phủ lên người, bao lên phố, khiến cho phố cuống quít, còn người thì nhộn nhịp. Bán bán mua mua, cứ như cả năm không được mua được bán. Phụ nữ thì vậy, nhưng những trụ cột gia đình chuyên lo công to việc lớn cũng bận không kém. Tụ tập, hội họp, tất niên, ai bảo đi nhậu là sướng? Tôi luôn yêu những sáng ba mươi tết nơi cửa Bắc chợ Bến Thành. Người vòng trong, vòng ngoài bên những sạp hàng hoa tíu tít bán mua. Những âm thanh lao xao ấy, những sắc hoa tươi thắm ấy, mùi mứt, mùi bánh và bao thứ mùi tổng hợp của chốn chợ búa thị thành ngày ấy, đã ở lại mãi trong tôi như một bức tranh về tết Sài Gòn, biến tết thành niềm thương nỗi nhớ, thành ký ức, thành hoài niệm. Thật kỳ lạ là cứ rực rỡ mãi không thôi.
Một năm trôi vèo như lá me rơi, rồi thì tết cũng tới. Tết là đoàn viên, tết là sum họp, nhưng ai cũng than, tết mệt quá à, bận quá à. Để rồi cứ thế, hết tết này đến tết khác, người quá mệt, người không còn thấy ý nghĩa của những tất bật lo toan ngày tết nữa. Người quên mất màu của tết rồi, vị tết nhạt dần, làm sao còn thấy hồn tết nữa? Người chỉ còn thấy tết là đếm năm đếm tháng, là những nghĩa vụ đầy miễn cưỡng. Không còn cần thiết nữa, tết dần phai sắc trong cái nắng chỉ còn màu chói chang. Tết hoang mang, ngơ ngác, lạc lối trên đường. Trong ký ức bộn bề của người, nhiều mùa tết đã đi qua những khoảnh đời trống, nhạt nhòa như bóng mai vàng năm cánh khi xưa nay đã nhường chỗ cho mai ghép, mai nhiều lớp cánh khổng lồ, chật chội trong những chậu bonsai. Những cây hoa mãn đình hồng yêu kiều vươn cao trước cửa nhà nhà năm nào cũng đã dần biến mất. Có một thời, cứ vào mùa tết là đường phố Sài Gòn ngập tràn những chậu hoa trĩu bông cao ngỏng ấy bên cúc vàng, mào gà đỏ tươi. Màu hồng của hoa, màu đỏ của giấy hòa cùng sắc cúc vàng và màu nắng “đặc sản” của phương Nam đã làm nên một không gian tết Sài Gòn thật khác. Dường như tất cả chỉ còn là hoài niệm. Chỉ còn lại gì đó như nuối tiếc, như nhớ nhung. Lờ mờ nhận ra rằng, người đã quá vô tình. Khi có thì cũng thấy thường, không còn nữa mới cảm thấy thiếu. Bao nhiêu người, bao nhiêu vật đã từng tồn tại như điều đương nhiên bên mình như tết, như hoa, chẳng mấy khi được quan tâm. Để rồi khi vật đã mất, người đã đi, chỉ còn lại những nuối tiếc và câu “giá mà...”. Người luôn để vòng đời cuốn trôi, người có bao điều để nhớ, nhớ gì tới một cánh hoa hay những gì đã làm nên một không gian tết nóng Sài Gòn?
Tôi thì luôn yêu tết. Tôi loay hoay và cảm thấy bất lực ghê gớm khi đâu đó dấy lên làn sóng “bài trừ” tết. Chẳng thể làm gì, thôi thì giữ lấy nếp nhà của mình vậy. Vẫn là mua mua bán bán, dù có giảm đi nhiều vì thời nay cái gì cũng có, cái gì cũng dễ, chủ yếu là hoa trái và trang hoàng cho không gian tết trong nhà mình. Nấu nướng vừa phải, làm vài món truyền thống dâng cúng ông bà tổ tiên.
Duy trì nếp cũ, đi chùa vào đêm giao thừa, không cầu tài cầu lộc mà chỉ cầu bình an. Những ngày đầu xuân thăm mẹ, thăm cha, sống chậm hơn, thong thả hưởng không gian đường phố bình yên trong những khoảnh khắc hiếm hoi của cả năm.
“Đón tết”, đối với tôi, cũng như đón người thân. Trân trọng tết, thì tết sẽ mang mùa xuân tới trong tâm. Tết sẽ không còn là hoài niệm, cũng chẳng phải dự cảm. Tết là hiện thực. Là không gian trong nhà, là thời gian ngoài phố cho mình tận hưởng từng phút giây đang sống. Là những thời khắc ngắm mai vàng khoe cánh. Là những lúc nghe điện thoại trong đêm: “Chúc mừng năm mới nhen!”. Là nụ cười và ánh mắt lấp lánh xuân của người xa lạ trên đường lỡ va vào nhau. Là không gian cỏ hoa giữa bốn bề bêtông và nắng chói chang. Nhiêu đó thôi, cũng đủ làm nên cái tết Sài Gòn. Chỉ vậy thôi, tết đi cùng người. Nhẹ như không.

Tết Hà Nội, có gì mà hay?
Tôi luôn thấy mình là người may mắn, có hai nơi chốn để đi về. Là người tham lam, nên tôi yêu cả cái nóng Sài Gòn lẫn cái lạnh Hà Nội. Nhất là khi tết đến, ở nơi này thì nhớ nơi kia. Nhưng tựu chung lại, thì tôi yêu cả hai không gian tết nóng - tết lạnh ấy, cả trong tâm tưởng lẫn ngoài đời thực.
Thời gian cứ thế trôi, có thành phố nào không thay đổi? Có đời người nào không đổi thay? Những phố nhỏ hiền hòa xứ lạnh thoắt biến thành đại lộ thênh thang như xứ nóng. Nhà không còn nép bóng dưới những hàng cây nữa. Người cũng như tết chẳng còn khoan thai. Tết Hà Nội với nhiều người, cũng nhạt nhòa như bụi mịn dăng dăng thay sương trên những mái nhà. Không ít tình yêu của người xưa đã không còn dành cho phố nay nữa. Cũng sợ tết, trốn tết, dù lạnh hay nóng. Có còn chăng, chỉ là một nỗi niềm đau đáu về những mùa tết năm xưa.
Tết ở Hà Nội, nhà nào cũng phải có bánh chưng, giống như Sài Gòn không thể thiếu cặp bánh tét trên trang thờ. Phải qua bao nhiêu năm, mấy mươi mùa tết, tôi mới thấu hiểu được cái triết lý sâu xa của các bậc tiền nhân về sự tích bánh chưng bánh dầy, cùng phong tục biếu quà ngày tết. Loài bánh ấy không chỉ để thưởng thức dưới góc độ ẩm thực như những loài bánh khác. Hầu hết các món ăn Việt đều chứa đựng những triết lý phương Đông trong đó mà bánh chưng của miền Bắc và bánh tét của miền Nam thật sự là những thí dụ tiêu biểu. Chẳng phải ngẫu nhiên mà xưa kia chỉ vào dịp tết người ta mới gói bánh chưng, bánh tét. Tôi tin rằng thứ bánh ấy được gói vào mùa xuân, khi lá non vừa ra, khi gạo nếp vừa được gặt, đậu xanh vừa chín và thịt heo vừa đúng lứa xuất chuồng. Nghĩa là những gì ngon nhất, tinh túy nhất của một mùa xuân - khởi đầu mới, được đem gói hết vào thứ bánh ấy, để cúng dâng đất trời như một sự hiếu đễ với tổ tiên, được biếu tặng cho nhau như một sự gắn kết trong sẻ chia. Trong những cái bánh luôn xanh màu lá ấy là sự hòa hợp của thiên nhiên và con người. Là sự hòa hợp âm dương được bao bọc trong tấm lá dong sản sinh từ mẹ thiên nhiên, hình thành từ gió, lửa và nước, trong suốt 24 tiếng đồng hồ.
Vào những ngày tết, tôi rất thích nhìn căn bếp bé xíu của mẹ với lỉnh kỉnh nồi niêu và những cặp bánh chưng treo lủng lẳng trên đầu. Sau này, dù có cố gắng đến mấy để lưu giữ truyền thống, cũng không sao tạo dựng được cái không gian ấy, mang được cái không khí ấy cho con cái vào ngày tết. Cũng đã từng cùng mẹ gói bánh chưng trong căn bếp hiện đại ngày nay, cũng đã từng đưa con cái về miền quê khi giáp tết và cùng con tự tay gói bánh. Nhưng vẫn thấy, chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Trong mấy tấm bưu thiếp màu mè hay cả những bộ phim dựng lại về tết Hà thành xưa, vẫn thấy thiếu quá nhiều cái “chất” của những mùa tết đượm mùi bánh chưng năm xưa. Phải làm sao đây? Chỉ sợ rằng, một ngày kia, bánh chưng sẽ thành cổ tích như chàng Lang Liêu mất thôi.
Ở Hà Nội vào ngày tết, hầu như nhà nào cũng “phải” có một bình hoa gồm lay ơn, thược dược, violet, hoa bướm (sao nháy), đôi khi cả cúc đại đóa nữa. Khi xưa tết nào mẹ tôi cũng cắm một bình toàn những loài hoa ấy. Bình hoa luôn đủ chín sắc, như lời nguyện cầu thầm lặng cho một năm mới thật nhiều sắc màu, thật trọn vẹn và đủ đầy. Có một thời, chỉ một năm một lần, những bình hoa mang sự lộng lẫy hiếm hoi tới những không gian chật hẹp nơi phố cổ hay những căn hộ tập thể giữa lưng trời. Ngày còn nhỏ, tôi chưa bao giờ thấy những bình cắm nhiều loại hoa ấy là đẹp. Tôi cho rằng, quá chán khi người ta giống nhau từ ăn mặc, nói năng, đến cả một bình hoa ngày tết cũng giống nhau nốt. Ôi, tôi của thời ấy, đã chẳng đủ kiến thức và quá thiếu quan sát, để có thể cảm nhận được sự tinh tế Hà thành trong những bình hoa xuân ấy.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà bình hoa ấy tạo dựng được không gian khiến người đi xa luôn nhớ về. Một không gian mang tên gọi “tết Hà Nội” được tạo dựng chỉ từ một bình hoa. Sự tinh tế tới từ sự pha trộn các dáng hoa khác biệt: lay ơn dáng thẳng lá cứng, violet mảnh mai lá kim, thược dược hoa tròn lá xẻ, hoa bướm rộn ràng sống động. Sự tinh tế toát ra từ bố cục cân bằng, khi bình hoa có cành cong cành thẳng, có bông tròn bông thuôn. Sự tinh tế đến từ những màu rực rỡ mà vẫn hài hòa, có nhu có cương, có nhấn có nền, có sang có tôi. Đủ tinh tế để những sắc màu ấy đưa khí trời và hương xuân đến cho phòng khách mỗi gia đình Hà Nội. Đủ tinh tế để tạo nên một cái gọi là “không gian”, thấy hoa là thấy tết Hà Nội. Và bỗng nhiên, những thược dược, lay ơn, violet, cúc su xi, mõm sói, hoa bướm... bỗng hóa thành niềm nhung nhớ, hóa thành ký ức mang tên “tết Hà thành”.
Dù cho thời thế có đổi thay tới đâu, những bình hoa ấy vẫn lặng lẽ kể câu chuyện của mùa xuân, kể về những ngày tết đoàn viên của mỗi nếp nhà bên bánh chưng xanh. Để bao người gốc Hà Nội như tôi, dù có đi xa tới đâu cũng vẫn nhớ, vẫn ước ao mỗi mùa tết lại có được bình hoa như thế trong không gian nơi mình đang sống. Để đón tết về, như đón người trân quý. Và để được nghe hoa kể chuyện xuân.


Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 164