Hoài niệm xóm cũ

Lượt xem: 7218
7/2/2019 0:00 - Điểm đến
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - Bài Phạm Xuân Vinh ảnh Quang Tâm

Xóm nhỏ nằm trong xứ đạo Tân Thành, thuộc vùng ven, ngoại ô dù chỉ cách Sài Gòn chưa đến 10km, ở khoảng giữa ngã tư Bảy Hiền và chợ Bà Quẹo (ngày xưa đoạn này gọi là đường Phạm Hồng Thái, sau này đổi thành đường Cách mạng tháng 8).

 

 

 
 
 
Ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó…
Nói như nhà thơ Đỗ Trung Quân thì Sài Gòn hồi ấy là chỗ có cái chợ Bến Thành, còn lại là nhà quê, vùng ven, ngoại ô hết. Đây là nơi tôi sinh ra, lớn lên và trải qua hết thời tuổi trẻ ở đó. Từ ngoài đường lộ đi vào hết con hẻm 363 là đến xóm tôi. Hẻm nhỏ khoảng 4,5 mét; có đoạn chỉ hơn 2 mét. Xóm giáp ranh với một cánh đồng rộng mênh mông. Mùa mưa, có chỗ người ta trồng lúa, chỗ thì thả rau muống. Còn mùa khô, cánh đồng là nơi người lớn, trẻ con tụ tập chơi đùa, đá banh, thả diều, hóng mát… Những tháng giáp tết người ta trồng bắp cải, xu hào và bông vạn thọ để bán trưng tết. Khi nào thấy cánh đồng ngập tràn sắc vàng bông vạn thọ là chúng tôi biết sắp tết rồi. 
Xóm lao động nghèo, chỉ có mấy dãy nhà đâu mặt vào với nhau, ngăn cách bằng một lối đi nhỏ khoảng 2 mét ở giữa. Xóm toàn là dân di cư vào mua hoặc thuê đất làm nhà ở. Tôi còn nhớ cứ đến cuối năm bà chủ đất, tôi gọi là bác Năm là người dân địa phương đi đến từng nhà thu tiền thuê đất. Hồi đó đất đai rẻ nên tiền thuê đất cũng chẳng bao nhiêu. Sau này, bác Năm cũng sang nhượng lại hết cho mọi người. Người dân ở đây gọi xóm tôi là xóm Bắc kỳ. Đám trẻ con địa phương cứ hay ghẹo chúng tôi “Bắc kỳ ăn cá rô cây…”, thế là có chuyện đánh nhau. Nhưng rồi trẻ con mau quên nên chỉ vài bữa là lại bá vai, bá cổ rủ nhau đá bóng, đánh đáo, bắn bi…
Nhà trong xóm xây theo một kiểu giống hệt nhau, trước nhà nào cũng có một khoảnh sân độ hơn chục mét vuông, trong đó có một cái giếng. Có khi hai nhà đào chung một giếng ở giữa ranh hai sân để đỡ chiếm diện tích. Không có cái giậu mùng tơi ngăn cách hai nhà như trong thơ Nguyễn Bính, nên rất nhiều cặp trai gái ra giếng múc nước, chuyện trò rồi… thành vợ thành chồng. Với họ, tình yêu bắt đầu từ cái giếng nước.
Xóm có vài chục căn nhà, nên mọi người biết nhau rất rõ, kể cả gốc gác, xuất xứ của nhau. Ông Soạn, người Thái Bình; ông Mạc dân Nam Định; ông Khá quê Hưng Yên; bà Hà gốc Hải Dương… Cách đây mười mấy năm, anh bạn tôi ở nước ngoài về có vào xóm cũ tìm, nhưng hỏi tên tôi chẳng ai biết. Đến khi anh nói tên bố tôi thì người ta dẫn đến tận nhà.
 
 
 
 
Tuổi thơ đã đi qua không trở lại …
Buổi sáng ở đây khá yên ả vì người lớn đi làm, trẻ con đi học. Bắt đầu từ 2, 3 giờ chiều trở đi mới tấp nập, ồn ào. Nếu như không gian trong xóm là nơi bọn trẻ chơi đùa, đá banh, đánh đinh, đánh đáo, nhảy dây… thì dọc theo con hẻm là nơi tập trung hàng quán. Tôi còn nhớ, gần đầu hẻm có quán cà phê của ông Hai Gạo, quán mở cửa từ rất sớm, khoảng 4 giờ đã có người ra uống cà phê rồi. Ông Hai Gạo chủ quán bán cà phê nhưng quanh năm suốt tháng lúc nào cũng cởi trần, khoe cái bụng phệ như bụng ông địa. Ông pha cà phê trong cái vợt rồi rót ra ly cho khách chứ không có cà phê phin như bây giờ.
 Suốt dọc theo con hẻm, người ta bày hàng rong ra bán, mùa nào thức đó, quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những món quà quê, mộc mạc, rẻ tiền: bắp luộc, bắp nướng, khoai lang, khoai mì, khô mực, cóc ổi… Thỉnh thoảng, một tuần hay nửa tháng lại có một xe phở do hai bố con đẩy vào bán. Đối với những đứa trẻ con nhà nghèo, phở là món ăn cao cấp hiếm khi được ăn, trừ những lúc ốm đau. Mấy chục năm qua rồi, ngồi nhớ lại tôi vẫn còn hình dung ra được mùi thơm quyến rũ của xe phở đẩy. Giờ dù đã ăn nhiều tiệm phở tên tuổi như phở Hòa Pasteur, phở Tàu Bay, phở Dậu, phở Thìn, phở Quyền… thì với tôi vẫn không đâu bằng phở xe đẩy ngày ấy. Sau ngày giải phóng, chẳng biết hai bố con ông bán phở đi đâu mà không bao giờ tôi gặp lại xe phở của họ nữa.
Đồng cảnh ngộ, xa quê, không có bà con thân thích bên cạnh, nên mọi người rất yêu thương nhau. Xóm giống như một gia đình lớn. Nhà nào có việc gì, giỗ chạp, hôn nhân, tang lễ, ốm đau, bệnh hoạn… là cả xóm xúm lại, mỗi người phụ giúp một tay. Suốt mấy chục năm sống ở đây hiếm khi tôi chứng kiến cảnh người lớn cãi cọ, chửi bới nhau (đánh lộn thì tuyệt đối không). Thỉnh thoảng, đám trẻ con xô xát, chỉ cần một người lớn trông thấy ra quát vài câu: “A! Thằng con ông X. (bà Y.) giỏi thật, để tao về mét bố (mẹ) mày!”. Thế là các cậu xanh mặt bỏ đi một nước mà cấm có dám cãi lại một tiếng nào!
Không chỉ có vậy, mọi người còn đoàn kết, giúp nhau trong cuộc mưu sinh, nương dựa vào nhau mà sống. Hễ ai tìm được việc gì lại rủ những người trong xóm cùng làm. Vậy nên, những ngày đầu giải phóng xóm tôi trở thành “xóm đồ gỗ”. Cả xóm đi mua tủ bàn ghế xưa cũ về tân trang, sửa chữa rồi bán, hình thành khu đồ gỗ Bảy Hiền nức tiếng một thời.
Đến lúc đồ gỗ khan hiếm,  mọi người lại rủ nhau đi mua đồng hồ, quạt máy, sulvonter (biến áp) cũ… về bán ở “chợ trời” Lăng Cha Cả. Bố tôi gọi đùa đó là nghề mua bán ve chai. Mỗi ngày ông và những người trong xóm đạp xe đi khắp hang cùng ngõ hẻm thành phố mua đồ. Hôm nào “trúng mánh” mua được nhiều đồ giá rẻ, đạp xe về đến nhà là ông tếu táo, ngâm nga:
                     Đi không há lẽ lại về không
                    Cái nợ ve chai phải trả xong

Có lẽ tết là những ngày vui, nhộn nhịp nhất của xóm. Từ khoảng 27, 28 đến giao thừa, từ đầu xóm đến cuối xóm người ta mang nồi ra ngoài đường, trước sân nhà để nấu bánh chưng. Những ngày ấy mọi người dường như thức suốt. Đám thanh niên mang đàn guitar ra vừa hát ca, nhậu nhẹt từ chập tối cho đến sáng để canh vớt bánh chưng.
Suốt ba ngày tết cứ lần lượt nhà này đến nhà kia chúc tết và lì xì cho đám con nít. Từ ngày mùng một đến hết tháng giêng, đầu hẻm đến cuối hẻm đâu đâu cũng có sòng bài. Đám con nít và thanh niên thì bầu cua cá cọp, bài cào, xập xám, lô tô… Người lớn thì tổ tôm, xóc đĩa, chắn cạ. Nói chung, xóm làng chơi với nhau chủ yếu vui là chính chứ ăn thua chẳng bao nhiêu. 
Hồi đó, nhạc sĩ Anh Bằng (tác giả bài hát nổi tiếng Nỗi lòng người đi) thứ bảy, chủ nhật vẫn hay đến nhà rủ bố tôi gầy sòng tổ tôm, tổ tép, chắn cạ. Thỉnh thoảng thiếu tay chia bài tôi lại bị các cụ trưng dụng. Thằng nhóc đang độ tuổi ham chơi, bị bắt ngồi một chỗ chia bài cứ hậm hực, lắm khi chia nhầm bài bị các cụ la chỉ biết ngồi khóc tấm tức. Nhờ “va chạm thực tế” đó mà sau này khi là sinh viên báo chí, được anh TH giới thiệu về báo Thanh Niên, ngày đầu tiên tòa soạn giao cho đề tài “cờ bạc sau ba ngày tết”, chẳng cần phải đi đâu, về nhà tôi ngồi vào bàn viết một mạch là có bài nộp và được đăng.
Sau ngày lập gia đình, tôi cũng rời xóm cũ về sống ở Hóc Môn. Ngày nào đi làm hay chở con đi học đàn ở Nhạc Viện thành phố, ngang qua con hẻm 363 (nay đã thành đường Nguyễn Hồng Đào, quận Tân Bình) dù bận đến thế nào tôi cũng cho xe chạy chậm lại để nhìn vào. Xóm cũ giờ khác hẳn xưa, nhà nào cũng thành “nhà mặt tiền”, lên vài ba “tấm”. Cánh đồng xưa giờ thành khu Bàu Cát khang trang. Chỉ có điều, dân cư cũ mỗi năm mỗi vắng, lớp bán nhà đi nơi khác, lớp già dần rồi qua đời. Mẹ tôi cũng mất trước khi hẻm mở rộng. Đám bạn bè xưa giờ đây cũng tứ tán mỗi đứa một phương. Thỉnh thoảng tôi có dịp về chốn cũ nhưng chẳng mấy khi gặp lại bạn bè, người quen…
Không còn cánh đồng, không còn mùa hoa vạn thọ. Xóm cũ chỉ còn trong ký ức!.
 
Theo TC kiến Trúc & Đời Sống số 153