Từ nhà liên kế đến “nỗi lòng cư xá”…

Lượt xem: 6015
13/12/2017 0:00 - Điểm đến
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - KTS Hồ Lê Phương

LTS: Trong một lần trả lời phỏng vấn của KT&ĐS, KTS Hồ Lê Phương đã nói: “Tôi như có duyên với nhà nhỏ”! Bạn đọc KT&ĐS có lẽ cũng đã biết đến cái “duyên” ấy qua nhiều căn nhà ở riêng lẻ (mà giới chuyên môn gọi là “nhà liên kế”và nhiều người thường gọi theo thói quen là “nhà phố”) do KTS Hồ Lê Phương thiết kế. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng những căn nhà liên kế đã từng gắn với ký ức tuổi thơ của ông ở Sài Gòn từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. KT&ĐS Xuân Bính Thân trân trọng giới thiệu bài viết của KTS Hồ Lê Phương về một loại hình nhà ở vốn đã quen thuộc và từng có thời phổ biến ở thành phố này. 

 
 
Hẻm 215 đường Chi Lăng (Phan Đăng Lưu) của cư xá Chu Mạnh Trinh, nay là đường Đoàn Thị Điểm thuộc ​quận Phú Nhuận
 
Nhà liên kế kiểu cũ
Nhà liên kế (thuật ngữ này hình như chỉ mới xuất hiện những năm sau 1975?) dùng chỉ loại nhà xây nối tiếp nhau, không có khoảng trống ở giữa hai nhà. Nhà liên kế thời kỳ đầu rất hợp lý và tiết kiệm chi phí xây dựng. Nhà sử dụng hệ thống kết cấu liên tục, tường chung, không cần móng và cột riêng cho từng nhà, khoảng sân giải quyết thông thoáng cũng được kết hợp chung 2 căn làm một. Tính đồng bộ của cả khu nhà cao. Từ đầu thế kỷ 20, nhiều nhà làm ăn giàu có cho xây dựng những dãy nhà liên kế dài cho thuê làm nhà ở hoặc kinh doanh. Thậm chí những đại gia như chú Hỏa còn xây cả nhà lồng chợ kế bên để tạo thành khu thương mại. Nhà phố trong thời kỳ này có tổng diện tích sàn không lớn lắm, thường có chiều ngang khá hẹp nhưng lại rất sâu. Bên dưới dùng cho mục đích thương mại và sinh hoạt chung, trên lầu là chỗ ngủ. Bố cục mặt bằng thường chia ra 2 phần: nhà trước và nhà sau, chia cắt bởi một khoảng sân nhỏ. Một hành lang có mái che nối hai phần nhà lại với nhau. Nhà có cửa sau mở ra một đường hẻm nhỏ (kết hợp hệ thống mương thoát nước). Thời Pháp thuộc đã hình thành nhiều khu nhà ở tập trung mà thường được gọi là cư xá. Sau năm 1954, Sài Gòn và các tỉnh miền Nam đã xây dựng rất nhiều loại cư xá loại này. Thường các khu cư xá do chính phủ xây dựng cho công chức hoặc quân đội nhưng cũng có nhiều khu cư xá do các công ty, ngân hàng xây dựng cho nhân viên của mình. Đã xuất hiện những cái tên gắn liền với tên chủ đầu tư như cư xá Kiến Thiết, cư xá Tổng Cục Gia Cư, cư xá Cogido, cư xá Thương Tín, cư xá Nông Tín Cuộc, cư xá Ngân Hàng; tên theo đối tượng dân cư như cư xá Sĩ Quan, cư xá Không Quân; tên riêng như cư xá Bắc Hải, cư xá Đô Thành, cư xá Tự Do… Với các cư xá loại này người ta cũng xây nhiều cấp nhà theo cấp bậc của nhân viên. Cấp thấp ở nhà có diện tích nhỏ. Cấp cao hơn thì nhà rộng hơn. Cấp cao nữa thì không còn nhà liên kế mà chuyển sang dạng nhà “song lập”, “tứ lập” hoặc biệt thự hẳn hoi. Những căn nhà liên kế thời đó không phân chia phòng riêng mà bố trí theo kiểu thông phòng, rất ít phòng vệ sinh (phần lớn chỉ có một cho cả nhà nhưng chia thành phòng tắm và cầu tiêu riêng biệt). Thời xưa, nhà không có cửa kính mà chỉ có cửa lá sách gỗ… Tuy ít tiện nghi như bây giờ nhưng nhà có độ thông thoáng tự nhiên và an toàn về thoát hiểm thì hơn hẳn những nhà liên kế “hiện đại” bây giờ. Thời đó tỷ lệ nhà liên kế do chủ nhà tự xây so với nhà xây sẵn hàng loạt còn nhỏ nên các thành phố hình như trật tự và đẹp mắt hơn (?).
Những khu cư xá thuộc các công ty hay ngân hàng được quản lý rất tốt. Cho đến năm 1975, các nhà trong những khu cư xá loại này hoàn toàn không có hiện tượng sửa chữa hay cơi nới một cách thiếu kiểm soát. Cấu trúc toàn khu vẫn giữ nguyên vẹn như ý đồ quy hoạch ban đầu. Người ta có thể cảm nhận được sự êm đềm trong cuộc sống của những “công chức”, “tư chức” khi bước vào trong cư xá! Nhưng những cư xá của chính phủ cho công chức ngạch thấp có nhiều thay đổi “mạnh bạo” hơn. Nhiều nhà bị phá dỡ để lên lầu. Rất nhiều nhà thay đổi lại mặt tiền. Điểm đặc biệt là xuất hiện các cửa hàng buôn bán và dịch vụ nhỏ trong khu cư xá. Tôi nhớ những tên gọi như: bà Tàu tạp hóa, cô Ba y tá, thầy Tư chích thuốc… và có cả “nhà bảo sanh”! Càng ngày các khu cư xá loại này càng trở nên lộn xộn, kém thẩm mỹ, lô nhô nhà cao nhà thấp…
 
 
Khu nhà liên kế 2 tầng được quy hoạch với một sân tennis ở giữa và nhà để xe riêng cho toàn khu nay đã biến dạng hoàn toàn
 
Nhà liên kế kiểu mới
Nhưng đến giai đoạn sau năm 1975, nhà liên kế mới thật sự thay đổi một cách “kinh hoàng”. Qua một thời gian không xây dựng, không sửa chữa của thời kỳ khó khăn, đến những năm đổi mới, nhà liên kế đã “trỗi dậy” với nhiều thay đổi vượt mức kiểm soát. Kinh tế khởi sắc, vật liệu xây dựng được buôn bán tự do với nhiều chủng loại phong phú, nhà thầu xây dựng và văn phòng thiết kế mở ra rầm rộ. Nhà thuộc các cư xá trước đây chưa “đoạn mãi” nay đã được “hợp thức hóa”. Những yêu cầu mới cho nhà ở thay đổi nên các căn nhà cũ không còn đáp ứng đươc. Số lượng người ở cho một căn nhà đô thị thường dao động từ 4 đến 6 người và bao gồm 3 thế hệ. Cư dân đô thị “hiện đại” đòi hỏi phải có phòng ngủ và phòng vệ sinh riêng, phòng sinh hoạt gia đình, phòng thờ phải tách khỏi các không gian chung… Các căn nhà liên kế trước đây không còn đáp ứng được nhu cầu mới nên bắt buộc phải được xây dựng lại. Do diện tích mặt bằng cố định nên nguời ta chỉ còn cách phát triển theo chiều cao. 
Sự lúng túng và yếu kém trong quản lý đô thị đã bộc lộ qua việc khống chế số tầng cao là không phù hợp với nhu cầu người dân. Việc áp đặt lộ giới cũng còn nhiều bất cập. Tuy quy định khắt khe nhưng thực hiện thì rất “linh động”. Các khu dân cư cũ mà trong đó có các cư xá đã biến dạng dần: nhà cao nhà thấp, cái lồi ra cái thụt vào, kiểu dáng và màu sắc đối chọi không nhượng bộ. Đối với những khu dân cư mới quy hoạch, lẽ ra nó phải có được cái trật tự của những khu cư xá cũ, nhưng do cách phân lô bán nền và không được quản lý chặt nên nó thành hỗn loạn. Các nhà quản lý lại cố gắng tái lập trật tự bằng cách bắt nhà nhà phải theo mẫu thiết kế chung nhưng không được đầu tư tốt nên hậu quả là xuất hiện những khu “cư xá” xấu vì những thiết kế mẫu quái dị! Giấc mơ về những khu “cư xá” với các dãy nhà liên kế đẹp ngăn nắp, trật tự xem ra vẫn quá xa vời…
 
 
Nhà liên kế 2 tầng với mặt tiền rộng 7-8m vây quanh một sân đất rộng với xà ngang, xích đu... Nay chỉ còn sót lại một vài dấu tích xưa
 
Nỗi lòng cư xá (1)
Có một khu cư xá chỉ  gồm một hẻm lớn và vài hẻm nhỏ cắt ngang hình xương cá ở gần ngã tư Phú Nhuận(2). Nghe nói, vào thời Pháp thuộc, đây là cư xá dành cho nhân viên ngân hàng nên gọi là cư xá ngân hàng Đông Dương. Sau này nó được biết đến dưới một tên rất quen thuộc: cư xá Chu Mạnh Trinh (do đầu hẻm có trường học Chu Mạnh Trinh, nay không còn). Nhiều người lớn lên ở Sài Gòn trước 1975 như tôi vẫn còn nhớ đến các nhân vật: Chương Còm, Bồn Lừa, Dzũng Đakao… những nhân vật trẻ con này đã được tác giả Duyên Anh cho làm “dân” của cư xá Chu Mạnh Trinh. Cư xá Chu Mạnh Trinh cũng nổi tiếng vì là nơi cư ngụ của rất nhiều văn nghệ sỹ lừng lẫy miền Nam thời đó. Thời trung học tôi biết gia đình nhạc sỹ Phạm Duy cùng vợ và các con cũng là những ca sỹ nổi tiếng (Thái Hằng, Duy Quang, Thái Hiền...) sống ở cư xá này. Sau này, qua sách vở, tôi mới biết cư dân của cư xá còn có gia đình nghệ sỹ Năm Châu - Kim Cúc, gia đình nhạc sỹ Dương Thiệu Tước - Minh Trang, gia đình diễn viên Thẩm Thúy Hằng, gia đình nhà văn Hồng Tiêu - Bà Tùng Long (chắc nhà văn Nguyễn Đông Thức cũng từng ở đây từ lúc nhỏ?) đạo diễn Lê Mộng Hoàng…
Không quá lời khi nói các cư xá thành thị miền Nam trước 1975 đều mang những “linh hồn” riêng. Không cư dân nào khi ra đi mà không nhớ đến nó. Đời sống “cư xá” đi vào rất nhiều tác phẩm văn thơ nhạc trước 1975. Tên mỗi khu cư xá đều giúp người ta hình dung được một giai cấp và một thành phần cư dân cụ thể không thể lẫn vào đâu được. Phải chăng đây chính là một phần của cái hồn của đô thị?  Nói như một nhà văn: “Nếu không có thay đổi về thời cuộc, có lẽ không ít người vẫn còn sống ở đó lâu dài...” (3).
 
(1) Lời trong bài hát “Trả lại em yêu” của Phạm Duy
(2) Hẻm 215 đường Chi Lăng nay là đường Đoàn Thị Điểm, quận Phú Nhuận
(3) http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/sai-gon-chuyen-doi-cua-pho-cu-xa-cua-nhung-nghe-si-danh-tieng-536459.html
 
Tạp chí Kiến Trúc & Đời Sống, số 117