Dinh Thống Nhất do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế
Vậy đó, trong cái khắc nghiệt của khí hậu Việt Nam nóng ẩm mưa nhiều, độ ẩm là cái mà người ta thường ít nói tới nhất. Ít nói bởi vì nó quá quen thuộc, quá gắn bó với đời sống hàng ngày tới mức người ta không còn nghĩ nó là yếu tố có tầm ảnh hưởng nhiều nhất, chi phối nhiều nhất đến tập quán, lối sống và thói quen sinh hoạt hàng ngày của người Việt trên mảnh đất này suốt mấy ngàn năm qua. Từ cách thức xây cất nhà cửa cho đến những điều kiêng kỵ đều giống như cuộc chiến đều đặn đối phó với những tác hại gây ra bởi độ ẩm.
Độ ẩm làm cho cái nóng của mùa hè trở nên dễ chịu hơn, nhiệt độ trên 30 độ C không làm cho người ta cảm thấy khó chịu khi có những cơn gió mùa mang nhiều hơi nước làm mát không khí. Trái lại, những cơn gió mùa mát mẻ ấy trượt dài trên dãy Trường Sơn và bị lấy đi một lượng lớn hơi nước đã trở nên nóng bức và khắc nghiệt, đe dọa mùa màng và sức khỏe người dân ở các tỉnh miền Trung.
Đã từ lâu trong thói quen xây cất nhà cửa, người Việt thường rất sợ bị bí. Nhà phải thoáng. Cần thoáng đến nỗi cửa phải mở ra hết mới đã, không ngăn chia, không bao bọc bởi tường và vách. Thoáng để không giữ ẩm, thoáng để có thêm nhiều dưỡng khí, không bị bí, không bị ngộp. Nhưng nếu mở toang hoác như vậy thì mưa tạt, nắng hắt, lại còn khi gió lớn mang nhiều hơi nước thổi liên tục có thể làm thân nhiệt của người đang yếu bị giảm đột ngột gây ra hiện tượng trúng gió, nguy hiểm đến tính mạng! Vậy nên từ xưa, nhà truyền thống Việt Nam thường chuộng làm bằng gỗ hơn các vật liệu gạch đá vôi vữa. Đơn giản vì nhà gỗ dễ dàng làm được những bức vách ngăn chia có độ đóng mở linh hoạt, ngay cả khi đóng vẫn cho phép các luồng không khí lưu thông qua lại dễ dàng.
Không phải trong ngôi nhà mà ngay trong khuôn viên bên ngoài nhà, vẫn thường xuất hiện những bức vách cản bớt gió, cản bớt nắng. Cản chứ không ngăn, tức là làm cho gió nhẹ bớt đi, cho nắng dịu lại để vẫn đảm bảo cho sự thoáng đãng. Chúng có thể là tường rào, lan can, hay những tấm bình phong thường xuất hiện trong kiến trúc Việt Nam thế kỷ 19 ở kinh đô Huế. Từ lối chạm lộng trong nội thất căn nhà gỗ truyền thống, đến những bông gió bằng sành sứ, bằng vữa đúc… được lắp trên các vách nhà, tường rào… các nghệ nhân cổ xưa của người Việt đã thổi cho chúng một linh hồn từ thế giới tự nhiên: cây cỏ, hoa lá, chim muông, linh thú, linh vật.
.jpg)
.jpg)
Các góc chụp khác nhau của bông gió ở Dinh Thống Nhất do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế
Thật khó có thể cho rằng những chi tiết này chỉ là những chi tiết để thông gió hay để trang trí đơn thuần, bởi vì khi bỏ nó đi cũng đồng nghĩa kiến trúc mất đi sự bay bổng. Họ không được mang những chức danh hoa mỹ như kiến trúc sư, nghệ sĩ hay nhà thiết kế, nhưng họ thực sự là những người giỏi nhất được chọn để thiết kế những công trình cho những phú hào, quan lại, hoàng tộc và triều đình.
Rồi những năm nước Việt trở thành thuộc địa của Pháp, những trí thức Pháp đi theo đội quân xâm lược đến Việt Nam, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của thiên nhiên trên mảnh đất này càng khâm phục tài hoa của những nghệ nhân đã tạo nên những tác phẩm kiến trúc và mỹ thuật mà đội quân viễn chinh đã nhẫn tâm phá hoại phần lớn. Như một sự đền bù cho những mất mát, họ đã để lại những tác phẩm mang hơi thở và cảm hứng từ kiến trúc Việt, trong đó tất nhiên phải có “bông gió”, chúng như những thành phần bắt buộc để kiến trúc có được sự kết nối với tự nhiên. Cũng là để ánh nắng chiếu rọi vào nhà không quá chói chang và đường đi của gió trở nên mềm mại hơn.
Tuy nhiên, “bông gió” thật sự chuyển mình khi những lứa kiến trúc sư đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương và sau đó là trường Đại học Kiến Trúc Sài Gòn thành tài đã tạo nên những ảnh hưởng to lớn cho nền kiến trúc hiện đại Việt Nam thế kỷ 20 suốt từ bắc đến nam. Đó là các tên tuổi KTS Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Quang Nhạc, Ngô Viết Thụ, Pham Vân Thâng, Nguyễn Bá Lăng, Lê Văn Lắm, Trần Đình Quyền, Bùi Quang Hạnh, Nguyễn Hữu Thiện… Trong sự kết hợp giữa Đông-Tây, dựa trên thành tựu của công nghệ xây dựng thế kỷ 20 là bộ khung kết cấu bằng bê tông cốt thép, những kiến trúc hiện đại của Việt Nam giảm hẳn các chi tiết gờ chỉ và hoa văn, không còn những mái dốc đầu đao của kiến trúc truyền thống. Kiến trúc trở nên đơn giản, mạnh mẽ và dứt khoát trong xử lý đường nét và hình khối. Dường như đây là thời kỳ mà ở trên mảnh đất này không có một kiến trúc nước ngoài nào có “quyền” nổi tiếng hơn kiến trúc do người Việt thiết kế. Sự giỏi giang của các kiến trúc sư thời kỳ này dường như đang kế thừa những tinh hoa từ các nghệ nhân cung đình ngày xưa. Trong sợi dây kết nối ấy bông gió đã chứng minh tầm quan trọng của nó bằng sự trở lại một cách hoành tráng trên nền của những vật liệu và cấu trúc mới. Khi vật liệu kính không đủ sức ngăn hơi nóng từ bức xạ mặt trời, nhưng lại chận đứng hoàn toàn luồng không khí sạch lưu thông vào bên trong ngôi nhà, thì những bức tường dùng lam bê tông, bông gió dễ dàng làm được chuyện đó, giống như một người bạn từ rất lâu rồi đã không thể thiếu trong ngôi nhà Việt. Bông gió có mặt trên diện rộng phủ kín toàn bộ mặt tiền, xuất hiện trên các lan can, hành lang, trên tường rào. Trong khi người Nhật sang Việt Nam xây nhà thường dùng các lam đứng, lam ngang cứng nhắc theo những nguyên tắc của lý thuyết chống nắng, thì kiến trúc sư người Việt vẫn thích sử dụng những bông gió theo từng chủ đề tạo hình hơn, để kể cho chúng ta nghe về những câu chuyện khác nhau. Dù chỉ là mới những bước đầu ứng dụng trong hình hài mới của kiến trúc, nhưng bông gió đã có những bước đi dài và mạnh mẽ. Tuy nhiên nó vẫn còn có những điểm chưa tốt chưa hay, cần có sự hoàn thiện hơn bằng cách đầu tư nghiên cứu thêm để có thể kết hợp với những ứng dụng khác.

.jpg)
Bông gió trên tường rào, bình phong tại khu đền thờ vua Đinh, vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình), trên ô cửa sổ nhà thờ Phát Diệm, Ninh Bình
Có một khoảng thời gian dài người ta đã xua đuổi bông gió, coi nó như là một ứng dụng lỗi thời trong kiến trúc khi đã có kính, có các lam che nắng tự động, có máy điều hòa nhiệt độ… Thậm chí người ta còn đổ hết trách nhiệm cho bông gió khi những tòa nhà không được kiểm tra đúng đắn hệ thống thoát hiểm dẫn đến sự cố gây thiệt hại về tính mạng. Và cuộc đua chạy theo công nghệ mới đó rốt cuộc cũng dẫn đến đường cùng khi những tòa nhà được bao bọc bởi kính nhôm ấy trở nên đen kịt như những lô cốt giữa đô thị bởi khói và bụi, và bởi sự che chắn từ bên trong lẫn bên ngoài bởi nhiều lớp màn và mái che bằng nhựa tổng hợp. Lớp vỏ công nghệ mới đó ngày càng được chứng minh là nó hoàn toàn không phù hợp với khí hậu ẩm ướt và nóng bức của xứ Việt, càng không phù hợp với những mục tiêu mà trào lưu kiến trúc bền vững trên thế giới đang hướng tới khi không đảm bảo được vấn đề hạn chế tiêu hao năng lượng và hạn chế khí thải bên trong tòa nhà.
Trong những năm gần đây, những hình ảnh mới của kiến trúc Việt được vẽ nên bởi những nhà thiết kế trẻ đã có bóng dáng về sự trở lại của bông gió, giống như một sự khởi đầu mới cần phải có khi kiến trúc vừa qua chặng đường dài không lối thoát. Đó là những hy vọng cho sự phát triển của kiến trúc mang tính kế thừa bởi một thế hệ kiến trúc sư đầy tiềm năng. Hơn thế, nó là sự trở lại của chính mình, của những thứ thuộc về mình, bởi cho dù công nghệ có phát triển, thế giới có tiến bộ và đổi mới, thì vị trí địa lý của mảnh đất này vẫn không thay đổi.
.jpg)

Tạp chí Kiến Trúc & Đời Sống, số 117