Để cái tôi không sục sôi: Vai trò của người đi trước

Lượt xem: 708
15/1/2019 0:00 - Chuyên đề
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - Bài KTS Huân Tú ảnh Trường Ân

LTS: Câu chuyện “Để cái tôi không sục sôi” bắt đầu từ xử lý quan hệ nhà chuyên môn với khách hàng, sau kỳ thứ hai đi vào quan hệ trong nội bộ các nhà chuyên môn, đã nhận được các ý kiến phản hồi đa chiều. Để khép lại vấn đề này và mở ra những trao đổi chuyên môn, tương tác nghề nghiệp thú vị khác trong năm 2019, bài viết kỳ cuối này có tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của ThS. KTS Nguyễn Huy Văn, người có hơn 20 năm kinh nghiệm làm nghề, giảng dạy và đảm trách công tác sinh viên của trường Đai học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh.

 
Kiến trúc là một nghề đòi hỏi người làm nghề phải luôn học hỏi, sáng tạo và có tác phong làm việc chuyên nghiệp
 
Phải khẳng định rằng cái tôi của người học và làm kiến trúc luôn có mặt tích cực lẫn chưa tích cực. Như mọi ngành nghề có dính líu đến sáng tạo, cái tôi hình thành từ đặc trưng nghề nghiệp sẽ rõ nét dần hay phai nhạt dần theo thời gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Khía cạnh khách quan như thời điểm và bối cảnh xã hội (thời chiến khác thời bình, thời bao cấp khác thời thị trường), sự đãi ngộ và lợi nhuận gặt hái được (lương bổng, thành tích, tiếng tăm), sự kỳ vọng và trọng trách xã hội trong từng nhóm lao động cụ thể trong nghề (làm chủ trì khác khai triển, ngồi quản lý khác đi thi công…). Còn về chủ quan, theo thời gian và tuổi tác, cái tôi tăng hay giảm tùy độ “hot” của chủ thể và tùy vào “bầy đàn” chung quanh chủ thể nữa. Nhận dạng đúng chủ thể với cái gốc được đào tạo thế nào, ra làm bắt đầu từ đâu, con đường sự nghiệp ra sao… sẽ xác lập được cách ứng xử tương hợp.
 
Tìm về nguồn gốc cái tôi của dân Kiến
Ai cũng biết dân Kiến (cách gọi sinh viên kiến trúc và kiến trúc sư) có đầu vào đại học thuộc dạng “hàng hiếm”, vừa khoa học vừa nghệ thuật, vừa phải ôn luyện thi cử với đặc thù riêng (thi vẽ) vất vả đã đành, mà vừa trải qua quá trình học tập lắm gian khó mà cũng đầy các tính từ khác người như “gu, lạ, chất, ngầu, bay”… và cả “lầy” nữa. Lầy, nói nôm na là sự bê trễ, kéo dài đến giờ chót mọi thứ như để khẳng định mình sáng tạo chưa gặp được hứng, chưa có thời gian làm cho tới, đã thành một dạng “phong cách” mà các đàn anh vô tình hay cố ý lây nhiễm cho đàn em. Đi học đã đành là sinh viên bị lầy do chưa quen, do thiếu phương tiện hoặc do sức ép bài vở, nhưng ra đi làm mà cũng tiếp tục lầy thì chỉ khẳng định một điều: thiếu chuyên nghiệp! Từ cái tôi biểu hiện qua phong cách ăn mặc, lối sống nghệ sĩ, đến cái tôi cá tính, phong cách của dân dính líu đến nghệ thuật, sáng tạo như ngồi quán xá lê la, thích nghe và chơi nhạc rock, độ xe và đi phượt… thì có thể thấy dân Kiến thuộc nhóm tạo ấn tượng hàng đầu trong giới trẻ qua mọi thời đại. Lễ hội truyền thống của trường Kiến Trúc luôn đình đám và hấp dẫn, hay những kiến trúc sư “lỡ bước” lấn sân sang điện ảnh, thời trang, ca sĩ, sản xuất âm nhạc, viết lách… có tên tuổi đã góp phần làm nên thương hiệu dân Kiến có chất nghệ sĩ cỡ nào, và vô tình lại càng đẩy cái tôi của một số người trong nghề đi tới các giới hạn của sự thiếu hợp tác, thiếu kiểm soát bản thân trong ứng xử, quan hệ.
Cũng vì duy mỹ hơn duy lý nên sinh viên kiến trúc và cả các kiến trúc sư trẻ rất dễ nhạy cảm, bức xúc trước các vấn đề của xã hội có động chạm đến cái đẹp (theo góc nhìn chủ quan của các bạn ấy). Thiên về cảm tính hơn lý tính, thích các biểu hiện bề mặt ấn tượng, thiếu thấu cảm với các ngành nghề khác “gu” với mình, dẫn đến dân Kiến có thêm kiểu ứng xử bất cần, kiểu phản ứng thái quá trước những ai góp ý trái chiều với mình, và từ các hạn chế trong giao tiếp chung như vậy dẫn đến không ít trở ngại trong học tập cũng như hành nghề. Khi đi học thì không chịu lắng nghe góp ý của thầy cô (chứ nói gì đến bạn bè), ra đi làm thì khó hợp tác nhóm, thiếu kết nối với khách hàng và các ngành liên quan, dần dà đẩy họ đến thái độ làm việc và sinh hoạt lập dị, bất hợp tác.
Mọi ngành nghề gắn liền với sáng tạo đều cần cái tôi cá tính, nhưng giá trị sáng tạo của kiến trúc lại không đơn thuần là tạo hình hay thể hiện bản vẽ. Sáng tạo không gian cho người khác xây cất, người khác sử dụng, người khác kiểm định quả là gây nhiều khó khăn cho kiến trúc sư nếu không biết dung hòa các mặt đối lập và hóa giải các mâu thuẫn trong suốt quá trình tương tác với đủ thứ “người khác”. Những kiến trúc sư có “cái tôi sục sôi” rất dễ bất hợp tác và thậm chí bỏ nghề, nhưng thực ra mọi chuyện không đến mức bi quan nếu từ môi trường đào tạo đến môi trường hành nghề họ được gặp các ứng xử phù hợp.
 

 

Với đặc thù nghề nghiệp sáng tạo, những nhân tố đặc sắc, khác biệt luôn được đề cao trong giới hạn cá nhân phải ứng xử chuyên nghiệp và trong khuôn khổ đặc trưng của tập thể
 
Làm và chơi, nói dễ làm khó
Khá nhiều dân Kiến hay tự nhận mình/công ty mình là “Làm ra làm, chơi ra chơi, làm hết sức, chơi hết mình”, nhưng thực tế thì không hoàn toàn vậy. Đặc trưng nghề kiến trúc phụ thuộc vào thị trường bất động sản và xây dựng khiến “dân Kiến” không thể nào “chơi ra chơi” như họ muốn. Còn làm thì đúng là… làm mửa mật! Chính việc chỉ thuần túy trau dồi chuyên môn, tăng ca triền miên, tiến độ bị hối thúc… đủ để “giết chết” khả năng sáng tạo, cạn nguồn hứng khởi và phá vỡ ý thức gắn kết với nhau trong một nhóm/ công ty thiết kế. Thay vì dành được thời gian cho các hoạt động thể chất và xã hội sau giờ làm việc căng thẳng, thì các nhà thiết kế thời 4.0 hôm nay chỉ mải miết vùi đầu vào những giải trí thụ động: lang thang trên mạng xã hội, những cuộc hẹn hò quen thuộc như mọi công chức khác. 
Anh T., giám đốc của công ty thiết kế quy mô cả trăm nhân viên đã từng thẳng thắn chia sẻ: “Tôi chỉ nhận vào công ty những người biết làm ngang với biết chơi, chơi được nhạc cụ, chơi được thể thao, là tôi nhận ngay. Bởi vì sau nhiều năm hoạt động, bao nhiêu thế hệ đến rồi đi, tôi biết cách nhận dạng được những người gắn bó với nghề là người có đủ hoạt động trong và ngoài nghề phong phú, lành mạnh để tái tạo năng lượng, để sáng tạo và gắn kết với công ty. Cứ biết làm, biết chơi, biết tương trợ nhau, có cá tính song hành với tinh thần đồng đội trước đi đã”.
Quan điểm của anh T. nghe qua thì thấy cũng đơn giản, nhưng thực tế lại không dễ. Sự khác biệt vùng miền, lứa tuổi, xuất phát điểm, thu nhập… khiến các thế hệ trước sau trong một công ty thiết kế không dễ gần gũi với nhau. Thêm vào đó, sức ép của thể loại công việc thiết kế vốn làm dâu trăm họ, áp lực tiến độ lúc nào cũng đè nặng khiến các hoạt động kết nối, giải trí, thể thao của công ty trở nên ít ỏi hoặc chỉ là hình thức. Các nghiên cứu tâm lý cũng chỉ ra, càng thiếu vận động thể chất và chịu áp lực công việc thì cái tôi càng bị tổn thương, càng dễ bộc phát phản kháng, đổ vỡ các mối quan hệ và khó gắn kết với tập thể. Việc khuyến khích thành tích bằng vật chất không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả, nhất là với dân làm nghề sáng tạo. Đa số kiến trúc sư nhảy việc từ 3 công ty trở lên sau 2 năm đầu đều có câu trả lời chung: em muốn mình khẳng định được một cái gì đó, học hỏi được cái gì đó, chứ không phải tăng ca liên tục, dù có tiền, nhưng thấy vô nghĩa quá. Có thể thấy các bạn trẻ ấy cần nhiều hơn những khuyến khích kiểu như tăng lương/tiền phụ trội.
Kiến trúc sư kỳ cựu Nguyễn Văn Việt từng ví von tỷ lệ kiến trúc sư trẻ ra trường mà còn theo nghề, sống được với nghề (thiết kế) sau 10 năm chỉ như 1 ngón trên bàn tay 5 ngón, 4 ngón còn lại là: bỏ nghề hẳn chuyển sang làm việc khác: làm nghề có dính líu xa gần như bất động sản, kinh doanh nội thất, thi công; đi dạy hoặc nghiên cứu lên cao hơn; làm quản lý hoặc làm… vợ hay chồng của kiến trúc sư khác! Thống kê vui này có thể khó kiểm chứng độ chính xác, nhưng riêng với lớp kiến trúc của người viết bài này thì… chính xác.
 
Vai trò của người đi trước
Người viết đã tiến hành phỏng vấn ít nhất 4 doanh nghiệp quy mô khác nhau, từ lớn, trung bình đến nhỏ trong giới thiết kế, và liệt kê ra được thứ tự ưu tiên khi các công ty tuyển dụng và tiến hành đào tạo nhân viên phục vụ cho công việc của doanh nghiệp mình, cụ thể là các ưu điểm sau được đánh giá cao:
1. Quên đi nhanh chóng mình từng là ai, điểm số thế nào thời đi học, sẵn sàng bắt đầu làm việc từ các vị trí thấp như họa viên khai triển, nhân viên mô hình, thư ký công trường.
2. Hiểu về lương bổng, luật lệ, chính sách và quy định của công ty, có ý thức về tác dụng và tác hại của truyền thông, biết kính trên nhường dưới, giữ gìn hình ảnh doanh nghiệp.
3. Ham học hỏi, mê tìm kiếm sách báo, tư liệu về văn hóa, xã hội, nghệ thuật nói chung và kiến trúc nói riêng.
4. Biết hài hước, lắng nghe và chia sẻ, sử dụng được ngoại ngữ và nhạc cụ (hoặc thể thao) và có nhu cầu thể hiện các “tài lẻ”.
5. Có niềm tin tâm linh, tôn giáo hoặc hoạt động kết nối cộng đồng ngoài giờ đi làm như thiện nguyện, công tác xã hội hoặc đội nhóm nghệ thuật, có thú chơi lành mạnh.
Có thể thấy ngay, cả 5 tiêu chí trên đều không dính dáng gì đến các thông báo tuyển dụng theo kiểu “cần bằng cấp, trình độ chuyên môn, kỹ năng sử dụng phần mềm chuyên dụng, khả năng chịu áp lực cao…” như thường đăng tải. Rõ ràng là từ điều kiện cần đến điều kiện đủ khác nhau khá nhiều, và thực tiễn giao tiếp tại các công ty cũng chỉ ra: không chương trình giảng dạy đại học nào có thể đào tạo được cho sinh viên kiến trúc các vấn đề nằm trong 5 ưu tiên kể trên. Có chăng, chúng nằm ở các kỹ năng mềm và quá trình giao tiếp giữa thầy và trò, dạy nghề nghiệp chứ không chỉ kiến thức, dạy ý thức (attitude) chứ không thuần kỹ năng (skill). Và nếu cái tôi cứ mãi sục sôi trong con người kiến trúc sư thì cần được nhìn nhận đa chiều, cần chia sẻ và xử lý trong các doanh nghiệp như là một môi trường học nghề tiếp theo môi trường đào tạo cơ bản. Với một nghề có đặc thù như kiến trúc, có lẽ tâm lý học và đạo đức nghề cũng nên đặt ra là các nhân tố quyết định thành công bên cạnh năng lực chuyên môn.
Một giảng viên lâu năm tại đại học Kiến Trúc đã thẳng thắn chia sẻ quan điểm: các doanh nghiệp và thậm chí khách hàng nữa chính là những người thầy tiếp theo để các sinh viên tốt nghiệp kiến trúc được học hỏi và điều chỉnh thái độ phù hợp trong hành nghề. Rất nhiều các nước tiên tiến hiện nay đều có thời gian thích hợp tùy luật định cụ thể để người có bằng kiến trúc tham gia thực tập hành nghề, thi chứng chỉ hành nghề và thực sự có thể hành nghề được nhờ quá trình cọ xát thực tế, trui rèn tư cách và thử thách năng lực. Dự thảo Luật Kiến trúc thời gian vừa qua nhận được nhiều ý kiến đóng góp cũng chưa có những định hướng rõ ràng về yếu tố đào tạo con người mà chỉ thiên về yếu tố quản lý hồ sơ nhiều hơn. Tuy nhiên, người viết vẫn cho rằng không thể chờ đợi sự thay đổi về con người nếu con người không vận động, thay đổi thái độ. Không thể đòi hỏi một hay nhiều bộ luật nào đó can thiệp, quản lý cung cách ứng xử khi môi trường đào tạo và làm việc không nhìn nhận bản chất của những cái tôi sục sôi, và có cách thức xử lý phù hợp, khai thác lợi điểm trong “cái tôi” khi sáng tạo, và hạn chế khuyết điểm của “cái tôi” trong ứng xử gây phương hại đến lợi ích chung.
Xin được mượn ý của ThS. KTS Nguyễn Huy Văn để kết thúc chuyên đề này: Rèn luyện cho người học và làm nghề kiến trúc một tác phong chuyên nghiệp trong công việc và ứng xử, để định hình phong cách riêng trong sáng tạo khi xã hội dần chuyển mình trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, đó là trách nhiệm và tình cảm của mỗi người giảng dạy cũng như người đi trước trong nghề kiến trúc. Khi cái tôi sáng tạo được tôn trọng trong giới hạn nghề nghiệp và ứng xử xã hội thì sẽ không ai phải chịu thua thiệt, môi trường hành nghề được lành mạnh và sản phẩm kiến trúc, đóng góp xã hội ngày càng được nâng cao.        
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 152