Trường Cao Thắng nhìn từ trên cao
Lịch sử thành lập trường
Khu đất trường tọa lạc vốn là vùng đất thấp ven đô, trải qua nhiều thay đổi quy hoạch từ đồ án Coffyn (1862); đồ án quy hoạch cảng Sài Gòn (Plan du Port de Saigon) 1863-1866; đồ án bản phối cảnh toàn bộ thành phố Sài Gòn 1881 của đại úy hải quân Pháp M. Favre; đến đồ án phối cảnh toàn bộ thành phố Sài Gòn của Gaston Pusch năm 1898 trở thành vị trí đắc địa gần cảng biển, tuyến đường sắt Sài Gòn-Mỹ Tho và các công trình kỹ thuật, khu vực này dần chuyển hóa thành vành đai công nghiệp quan trọng.
Ngày 29.11.1879, Thống đốc Nam kỳ ký ban hành quyết định thành lập Ủy ban Nghiên cứu việc lập trường dạy nghề ở Sài Gòn. Sau kết quả làm việc của Ủy ban nói trên và do đề nghị của Thống đốc Nam Kỳ, ngày 20.2.1906 Toàn quyền Đông Dương Rodier ban hành nghị định thành lập trường học nghề tại Sài Gòn gọi là trường Cơ khí Á Châu (Ecole des Mécaniciens Asiatiques) tại đường Hamelin (tức đường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay). Trường gồm 3 ngành: Nguội, mộc, đúc loại nhỏ. Thời gian học 3 năm. Người đầu tiên được cử làm hiệu trưởng là ông Emmanuel Rosel - kỹ sư công nghệ, đại tá hải quân.
Mục đích của trường là đào tạo công nhân kỹ thuật người bản xứ cho hải quân Pháp. Chương trình học có nhiều môn về công nghệ nên dân chúng quen gọi là trường Bá Nghệ.
Trường tọa lạc tại số 65 Huỳnh Thúc Kháng, vị trí đắc địa tại khu vực trung tâm Sài Gòn, diện tích đất rộng hơn 10.075m2, diện tích sàn gần 40.000m2. Khuôn viên trường bao quanh 4 con đường: Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi, Pasteur, Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Vị trí trường Cao Thắng trên bản đồ Google Map
Trường Cơ khí Á Châu. Các lớp lý thuyết. Học sinh khóa 2 và khóa 3 tại giảng đường (hiệu ảnh Photo Nadal, khoảng 1925-1931)
Trường Cơ khí Á Châu-xưởng động cơ nổ (Hiệu ảnh Photo Nadal, khoảng 1925-1931)
Ý nghĩa đổi tên trường Cơ khí Á Châu sang trường Cao Thắng
Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đình Tư cho biết danh nhân Cao Thắng (1864-1893) được mệnh danh là “ông tổ của ngành quân giới Việt Nam” bởi tư duy thực tiễn, khả năng tổ chức và óc kỹ thuật. Cao Thắng là trợ thủ đắc lực của Phan Đình Phùng trong phong trào Cần Vương. Đóng góp nổi bật nhất của Cao Thắng là người đầu tiên chế tạo súng kiểu Tây ở Việt Nam. Sau khi thu được súng của quân Pháp, ông tháo rời từng bộ phận để nghiên cứu cấu tạo. Ông tập hợp những người thợ rèn giỏi ở Nghệ Tĩnh, mở các xưởng rèn trong rừng, mặc dù điều kiện vô cùng thiếu thốn nghĩa quân đã chế tạo thành công hàng trăm khẩu súng trường có sức sát thương không kém mẫu súng trường Gras M1874.
Ghi nhận công lao người đặt nền móng đầu tiên cho kỹ thuật chế tạo vũ khí hiện đại của người Việt, nghị định số 199-GD[1] của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 29.6.1956 đổi tên trường Kỹ thuật Sài Gòn, số 65, đường Huỳnh Thúc Kháng là “trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng”.
Tháng 10.2024, trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng.

Tượng đồng danh nhân Cao Thắng trong phòng truyền thống
Tượng đồng Kỹ sư Đại tá Hải quân Emmanuel Rosel, người sáng lập và là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Cơ khí Á Châu
Bảo tàng sống di sản kiến trúc
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng là một “bảo tàng sống” phản ánh tiến trình phát triển kiến trúc giáo dục kỹ thuật Việt Nam qua hơn một thế kỷ. Quá trình hình thành diện mạo nhà trường trải qua bốn lớp kiến trúc chính[2].
Giai đoạn 1906-1918 đặt nền móng với các công trình thuộc địa thích nghi khí hậu nhiệt đới. Lúc đầu trường[3]chỉ có một ngôi nhà lợp tôn ở góc đường Mac Mahon (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và đường Krantz (nay là đường Hàm Nghi). Trong căn nhà đó chỉ có vỏn vẹn một xưởng cơ khí nhỏ.
Năm 1909, một xưởng cơ khí sườn sắt lợp tôn được xây cất thêm, hiện còn nguyên vẹn ở góc Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Hàm Nghi dùng làm xưởng nguội, tiện, máy dụng cụ cùng kho vật liệu.
Trong các năm 1916, 1917, 1918, 1919 trường xây thêm ký túc xá cho học sinh nội trú, vừa phòng ăn vừa phòng ngủ, phòng y tế; một biệt thự đôi được xây dựng ở góc đường Pellerin (nay là Pasteur) và đường Hamelin (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng) để làm nhà ở cho viên tổng giám thị và trưởng xưởng công xa, vì khu xưởng xe lửa dời đi nơi khác, nên trường mở rộng phạm vi về phía Đông.
Năm 1924 trường xây thêm dãy nhà có đồng hồ để làm nhà ở cho giáo viên ở từng lầu, phía dưới để công xa.
Từ giữa thập niên 1920, trường Cơ khí Á Châu bước vào giai đoạn hoàn thiện diện mạo kiến trúc với việc xây dựng quy mô lớn các xưởng thực hành và khu nội trú. Các xưởng cơ khí được thiết kế theo tinh thần kiến trúc công nghiệp Pháp, ưu tiên công năng với không gian khẩu độ rộng, mái cao, kết cấu thép hoặc bê tông cốt thép, hệ cửa lấy sáng lớn và thông gió tự nhiên, phản ánh sự thích nghi giữa kỹ thuật xây dựng châu Âu với khí hậu nhiệt đới Đông Dương.
Năm 1926 một dãy cơ xưởng được dựng lên tiếp theo để làm chỗ sửa công xa, xưởng máy, xưởng điện, xưởng gò và rèn. Tới đây trường đã có một dãy 5 xưởng hình thành tồn tại đến nay.
Đến năm 1927, các khối ký túc xá mới tiếp tục được xây dựng theo nguyên tắc kiến trúc thuộc địa nhiệt đới với hành lang mở, trần cao, cửa sổ đối lưu, mái dốc và khoảng lùi thông thoáng.

Hiện vật trưng bày trong thành Nhà Truyền thống của trường Cao Thắng
Mô hình cắt động cơ Knight (Sleeve-Valve) niên đại 1910-1930
Từ 1925 đến 1939, kiến trúc công nghiệp Pháp thời cực thịnh định hình bản sắc với các xưởng thực hành khẩu độ lớn, kết cấu thép, mái cao thoát nhiệt và hệ cửa lấy sáng tối ưu hóa cho dây chuyền sản xuất. Giai đoạn này cũng hoàn thiện các thành phần quan trọng như ký túc xá, biệt thự quản lý và lầu Đồng hồ trung tâm, tạo nên cấu trúc quy hoạch thống nhất.
Từ 1955 đến 1975, kiến trúc hiện đại miền Nam xuất hiện với kết cấu bê tông cốt thép, mặt bằng linh hoạt và hệ lam che nắng, nhấn mạnh công năng thay vì trang trí cổ điển. Từ 1975 đến nay, nhiều khối nhà mới tiếp tục được xây dựng theo mô hình kiến trúc giáo dục đương đại, đồng thời các xưởng cơ khí lịch sử được cải tạo, bổ sung thiết bị nhưng vẫn giữ nguyên kết cấu và không gian kiến trúc ban đầu
Điểm đặc sắc là sự phát triển này diễn ra dưới hình thức “chồng lớp”: Các công trình mới được bổ sung vào khoảng đất trống mà không phá bỏ di sản cũ. Các xưởng cơ khí lịch sử (1925-1939) vẫn được duy trì, cải tạo để thích nghi với công nghệ hiện đại thay vì bị thay thế. Tính liên tục của chức năng đào tạo trên cùng một địa điểm cùng sự tồn tại song song của các ngôn ngữ kiến trúc từ thuộc địa, hiện đại đến đương đại đã biến Cao Thắng thành một quần thể di sản hiếm có, kể câu chuyện về lịch sử công nghiệp hóa và đô thị hóa của Sài Gòn.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư gõ thử máy đánh chữ Royal 200 trong phòng truyền thống trường Cao Thắng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư xem video trực tuyến quan sát đồng hồ cổ Garnier đang hoạt động
Lầu Đồng hồ: Giá trị kiến trúc di sản
Lầu Đồng hồ xây dựng từ năm 1924 nay hơn 100 tuổi, bộ máy đồng hồ cơ khí của trường Cao Thắng vẫn hoạt động vận hành tốt nhờ được bảo dưỡng thường xuyên.
Lầu Đồng hồ nổi bật với phong cách kiến trúc thuộc địa kết hợp công nghiệp đặc trưng đầu thế kỷ 20. Công trình được tổ chức theo bố cục đối xứng chặt chẽ quanh trục trung tâm, tạo cảm giác cân bằng và ổn định. Điểm nhấn nổi bật nhất là hệ cầu thang đôi mở rộng theo hình chữ V, dẫn từ sân lên hành lang tầng trên rồi hội tụ tại trục giữa, nơi đặt bảng tên và tháp đồng hồ. Khối nhà có quy mô hai tầng với mái dốc lợp ngói đỏ, mái hiên vươn rộng che nắng mưa và hệ hàng cột mảnh đỡ hành lang chạy suốt chiều ngang mặt đứng phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Phía trên là tháp đồng hồ nhô lên khỏi mái chính, tạo điểm nhấn theo phương đứng và trở thành tâm điểm của toàn bộ bố cục. Tổng thể công trình không sử dụng nhiều chi tiết trang trí mà gây ấn tượng bằng tỷ lệ cân đối, hình khối rõ ràng và sự kết hợp giữa phương ngang của mái dài với phương đứng của tháp đồng hồ đồng thời vẫn giữ được sự kết nối với khuôn viên sân trường phía trước.
Giá trị nổi bật nhất của công trình nằm ở bộ máy đồng hồ. Mặt đồng hồ có hình tròn, được làm bằng đá mài ghép, với đường kính khoảng 1,2 mét. Phần kết cấu chứa đồng hồ có chiều rộng ngang khoảng 2,5 mét. Phía sau mặt số là bộ máy đồng hồ mang nhãn hiệu Garnier, được sản xuất tại Paris. Cơ chế vận hành của đồng hồ hoàn toàn dựa trên nguyên lý cơ khí. Người vận hành quay tay để thông qua hệ thống bánh răng và bu li kéo dây cáp nâng các quả đối trọng lên cao, sau đó đồng hồ hoạt động nhờ thế năng tích lũy trong các quả đối trọng này khi chúng từ từ hạ xuống.
Hơn 10 năm nay, lầu Đồng hồ được chuyển đổi công năng trở thành Nhà Truyền thống của trường lưu giữ các tư liệu và hiện vật lịch sử giá trị.

Mặt tiền toà nhà lầu Đồng hồ
Vị trí của trường Cơ khí Á Châu (mảng xanh) trong bản đồ quy hoạch Sài Gòn 1921. Từ năm 1917, đường Hamelin được đổi tên thành Đỗ Hữu Vị, người Việt Nam đầu tiên lái máy bay chiến đấu và tử trận trong chiến tranh Thế giới thứ nhất (nguồn: Service du Cadastre de Cochinchine)
Qua hơn một thế kỷ phát triển, trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng đã hình thành một quần thể kiến trúc đa lớp, phản ánh liên tục các giai đoạn phát triển của kiến trúc giáo dục kỹ thuật Việt Nam, từ thời thuộc địa, hiện đại miền Nam đến thời kỳ đổi mới và đương đại.
[1] Nguồn: Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng
[2] Tổng hợp từ bài: Từ trường cơ khí Á Châu đến trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng tiểu sử một di sản giáo dục - kiến trúc - đô thị hơn 120 năm, ThS. KTS Nguyễn Ngọc Sơn
[3] Trích từ: Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam kỳ 1859-1954, tập 2, Nguyễn Đình Tư
THEO KT&ĐS SỐ 241