Gian nhà chính treo cặp câu đối thể hiện tư tưởng của chủ nhân
Sau khi lập Đình, tri huyện Nguyễn Minh Giác thuê các thợ xây dựng từ Huế vào cất nhà theo kiểu kiến trúc đặc biệt kết hợp giữa mỹ thuật Huế và phương Tây.
Phần kết cấu bên trong của ngôi nhà cho thấy rõ dấu ấn của nhà rường truyền thống miền Trung: Hệ khung gỗ lớn với các cột tròn, kèo, xuyên, trính liên kết bằng kỹ thuật mộng chốt truyền thống tạo nên một không gian vừa vững chắc vừa linh hoạt. Bố cục ba gian hai chái được tổ chức theo trục dọc, trong đó gian giữa giữ vai trò trung tâm thờ tự ông bà. Ánh sáng đi vào nhà không trực tiếp mà được tiết chế qua các hoa văn điêu khắc trên gỗ.
Mặt tiền nhà cổ là những phù điêu đắp nổi hoạ tiết mỹ thuật phương Tây cho thấy sự tiếp nhận văn hoá Pháp của Nam bộ cuối thế kỷ 19. Các chi tiết chạm khắc trên kèo hình đầu rồng, đầu cột, các cánh cửa ra vào cho thấy tay nghề tinh xảo của thợ mộc. Bên trong nhà treo các bảng chữ Hán hoành phi, câu đối tương tự những nhà cổ Nam bộ xưa. Mái nhà phía sau lợp ngói vảy hết, phía trên trang trí đồ án cúc cài thọ, rất phổ biến trong trang trí Huế thời Nguyễn, nhưng đã bị rút gọn, do làm trang trí trên bờ nóc của tòa nhà thì không làm cao chi tiết trang trí này được, vì dễ bị gãy do mưa bão.

Mặt tiền nhà cổ trang trí mỹ thuật phương Tây
Góc mặt tiền nhà cổ
Hai gian nhà chính và nhà phụ có sân vườn vùng đệm giữa
Ngôi nhà hoàn thành vào năm 1914, chi tiết này khắc trên tấm hoành phi treo phía sau nhà nội dung 恢先緒 (khôi tiên tự) tạm dịch nghĩa Kế tục và phát huy cơ nghiệp tổ tiên, nối chí tiền nhân, làm rạng rỡ gia phong.
Gian bên trong phía trước là án thờ di ảnh của ông, phía sau là di ảnh của bà. Gian giữa nhà treo cặp câu đối thể hiện tinh thần của ông khi tâm huyết xây dựng ngôi nhà để lại cho đời sau lâu dài.
Thế đức tác cầu, tảo nhị lạc thiên, tân đống vũ
Dịch nghĩa: Noi theo đức tổ tiên, thuận mệnh trời mà dựng nên nhà mới
Lý nhân di mỹ, yên thiên tùy địa, bốc quy mô
Dịch nghĩa: Chọn nơi làng nhân đức để ở, theo thế đất mà định quy mô xây dựng, lưu lại điều tốt đẹp dài lâu
Bàn thờ tri huyện Nguyễn Minh Giác
Hình kỷ niệm gia đình trước mặt tiền nhà
Ông Nguyễn Minh Luân đọc bài thơ con cháu sáng tác ghi ân đức của ông bà
Điều ít ai biết là con cháu gia tộc Nguyễn Minh Giác theo Việt Minh tham gia cách mạng từ thời Pháp. Ông Nguyễn Minh Lý con thứ 9 của ông Nguyễn Minh Giác du học từ Pháp về sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 đã tham gia hoạt động ở tỉnh đội Long Châu Hà (long Xuyên-Châu Đốc và Hà Tiên) làm công tác binh vận, đến năm 1954 ông tập kết ra Bắc kết hôn với bà Trương Thị Phương và sinh 2 con trai tại Hà Nội: Nguyễn Minh Luân và Nguyễn Minh Chính. Ông Nguyễn Minh Luân tốt nghiệp đại học Mỹ thuật TP.HCM, từng tham gia các triển lãm điêu khắc toàn quốc và thành phố và đạt giải thưởng. Ông Nguyễn Minh Chính tham gia cách mạng và nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng năm 2025. Người con gái thứ 8 của tri huyện Nguyễn Minh Giác là bà Nguyễn Thị Thao, sinh năm 1911 tại Thủ Đức, xuất gia năm 1932 pháp danh Thích Nữ Như Thanh là cố Viện chủ Tổ đình Huê Lâm (Q.11, TP.HCM), bậc giáo phẩm Ni giới tiêu biểu tại Sài Gòn. Bà nổi tiếng với tinh thần nhập thế, thành lập trường học, cô nhi viện và đóng góp lớn cho giáo dục Phật giáo cũng như công tác xã hội.

Cột kèo bên trong gian nhà sau
Cột kèo gian nhà sau
Kèo chạm khắc hình rồng và xung quanh tường vẽ trang trí hoa sen
Mái nhà phía sau lợp ngói vảy hết, phía trên trang trí đồ án cúc cài thọ
Con cháu tri huyện Nguyễn Minh Giác đã viết bài thơ ghi nhớ công đức ông bà để lại:
Trước Cố tổ giúp ngài Lê Thánh
Sau Nội tổ xây cất chùa đình
Nay cháu con thừa hưởng phước dư
Xưa Sơ tổ lập công bồi đức
Hình ảnh nhà cổ Nguyễn Minh Giác giữa không gian đô thị hoá là di sản trăm năm tuổi của làng Tăng Nhơn Phú Thủ Đức gửi lời nhắn hậu thế trân trọng, gìn giữ và phát huy báu vật được trao truyền.
THEO KT&ĐS SỐ 239