Để cái tôi không sục sôi: Cái tôi trong môi trường làm nghề

30/7/2019 - Chuyên đề
Tác giả: Bài KTS Huân Tú ảnh Trường Ân

Giới làm nghề kiến trúc vẫn hay được xem là những nghệ sĩ hoặc ít nhiều thiên về nghệ thuật mà không giỏi tính toán về kinh tế, quản trị. Chuyện va chạm giữa những cái tôi của bên khách hàng và bên cung cấp dịch vụ suy cho cùng là lẽ đương nhiên trong các giao dịch đòi hỏi giao tiếp nhiều và dài (suốt quá trình làm nhà).

 

 

 

Nhưng câu chuyện quản lý “cái tôi” của chính các nhà chuyên môn với nhau cũng lắm điều đáng nói, mà lâu nay vì nhiều lý do chỉ hay “xử lý nội bộ”. 
 
Khi “cái tôi tỷ lệ nghịch với sự hiểu biết” 
Câu nói trên của Albert Einstein xem ra khó được các kiến trúc sư (KTS) chấp nhận, nhưng có lẽ họ chỉ đúng khi xét về phương diện kiến thức thuần túy. Còn kỹ năng mềm, cách ứng xử, hiểu biết về xã hội và nhân văn… bên cạnh các bản vẽ hoành tráng, các lý luận nghệ thuật, thì họ tính sao? Đặt trong bối cảnh quản lý con người, dường như các KTS dễ cho thấy một mẫu số chung: cái tôi của họ cao đến mức nào mà họ khó có thể “ngồi lại bên nhau” đến vậy?
Nghiên cứu của Mayer và Salovey năm 1997 chỉ ra rằng: trí thông minh cảm xúc (emotional intelligence) luôn có nhiều vấn đề hơn trí thông minh nhận thức (cornitive intelligence). Nhiều vấn đề tức là đủ mặt tốt và xấu, phức tạp và phong phú, hấp dẫn và cũng thất thường hơn. Trong nghề kiến trúc thì mặt tích cực của thông minh cảm xúc giúp KTS và nhà thiết kế sáng tạo hơn, giúp phản hồi và tranh luận khi làm việc, nhưng mặt tiêu cực cũng khiến họ căng thẳng và bất đồng ý kiến nhiều hơn, đổ vỡ quan hệ đồng nghiệp và dễ sai lệch khi chọn lựa phương án nếu thiếu các thang độ kiểm soát định lượng và định tính nghiêm ngặt. Những người hành nghề chủ yếu dựa vào cảm hứng cũng rất sa đà và kéo dài thời gian ra quyết định, hoặc quyết định cảm tính, xốc nổi, thường ảnh hưởng đến tiến độ thiết kế và thi công. Mà vấn đề tiến độ là chuyện cốt tử của các công ty kiến trúc - xây dựng, thậm chí thành “bệnh nghề nghiệp”. Vậy thì, quản lý một nhóm người hay công ty thiết kế thiên về cảm xúc chắc chắn sẽ phức tạp và mệt mỏi, dễ ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến quyền lợi của công ty cũng như khách hàng. Điều này tương tự quản lý một đội bóng toàn siêu sao lắm tài nhiều tật, toàn những ngựa chứng hoặc các nghệ sĩ ngẫu hứng, nếu công ty đạt thành công nào đó thì chẳng qua là do may mắn, gặp thời hoặc do đối tác quá nhường nhịn cho qua chuyện.
 
 
 
Đi làm để làm gì?
Không ít sinh viên kiến trúc sau khi tốt nghiệp hay tự hỏi hoặc hỏi người đi trước câu hỏi này. Hỏi, mà cũng như trả lời. Dù có phủ dưới lớp ngôn từ bóng bẩy hay thô ráp, khiêm cung hay ngạo nghễ đến đâu, thì  câu hỏi “đi làm để làm gì” được tạo nên bởi sự xáo trộn bất an sẵn có nung nấu từ tâm thức của người hỏi / tự hỏi. Nguồn gốc dẫn đến các ứng xử của con người thường nằm trong 6 phần, và việc đi làm hay nghỉ làm, cái tôi to đùng hay cái tôi nhỏ xíu chẳng qua cũng để thỏa mãn 1 hay 6 cơ sở sau đây: 
- Động cơ của hành vi: đi làm để kiếm tiền, kiếm kinh nghiệm hay kiếm… chồng, kiếm gì được thì sẽ làm, kiếm được rồi hoặc kiếm không được như ý ắt sẽ nghỉ.
- Thế giới quan, cách nhìn vấn đề: duy tâm, duy mỹ, duy lý, duy cảm, thậm chí góc nhìn cực đoan về nghề nghiệp đến mức phi lý cũng khiến người ta đi làm hoặc nghỉ làm đôi khi chẳng vì gì cả, chỉ vì chính mình thấy mình cần phải nghỉ!
- Sự bảo vệ mình, an toàn, an phận: tìm cách tồn tại, tìm cách chứng minh bản thân, thậm chí để vượt lên so với những định kiến của xã hội và gia đình. Thông thường những KTS có điều kiện hơn (kinh tế, gia đình, xuất thân) sẽ ít quyết liệt hơn trong công việc. 
- Cảm xúc và công cụ điều khiển cảm xúc bản thân: tính chất nghệ thuật của quá trình học và làm kiến trúc khiến phần cảm xúc bị đẩy lên (hay đè nén xuống) một cách có (hay không) kiểm soát. Trong thời công nghệ và thông tin tràn lan hiện nay, tác phẩm kiến trúc dễ dàng xuất hiện và bị bình phẩm, dễ dàng bị bóp méo thực tế nhờ “kỹ xảo” hình ảnh, càng khiến các cung bậc xúc cảm của giới hành nghề bị tác động nhiều hơn.
- Khí chất riêng mỗi người: tùy theo xuất thân gia đình, nếp giáo dục từ nhỏ, vị trí và tính chất công việc… ảnh hưởng và tạo nên “thần thái” của người làm nghề. Rất nhiều kiến trúc sư quen làm lãnh đạo hay chỉ lo việc giảng dạy hầu như không thể làm nghề thiết kế nhà tư nhân vì đó là công việc “làm dâu” rất nhiều va chạm.
- Tính cách: theo thời gian và quá trình hành nghề bị “bầm dập” lặp lại nhiều lần thành ra thói quen, nề nếp làm việc. Thói quen tạo nên tính cách. Các nghệ sỹ lớn thường cô đơn để sáng tạo, và giới KTS dù không nhiều nghệ sĩ lớn, hình như vẫn có tính cách (tạo nên số phận) cô đơn! 
Các cơ sở nêu trên về mặt tâm lý đám đông giải thích nguồn gốc của cách thức người lao động (ở đây là KTS) ứng xử thế nào và mong muốn gì trong một môi trường làm việc. Từ đó, khâu tuyển dụng nhân sự có thể xây dựng tiêu chí tuyển chọn, cách phỏng vấn hay tiến trình thử việc để tìm ra ứng viên phù hợp. Dù luật lao động quy định thời gian thử việc tối đa không quá 60 ngày, và cũng nhiều công ty áp dụng thời gian thử việc này, nhưng nói như anh N. từng phụ trách một văn phòng thuộc ACSA, Hội Kiến trúc sư thành phố Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ cần một buổi, đưa cho ứng viên cái toilet nho nhỏ, kêu triển khai thử là biết ngay em ấy có tiếp tục học nghề được hay không, hơi đâu thử thách nhau đến tận 2 tháng!”. Học nghề, đúng là như vậy, bởi tốt nghiệp xong mới chỉ bắt đầu quá trình “học nghề” mà thôi.
 
 
 
Học nghề và những vấn đề tâm lý
Về tâm lý học quản trị, những nhân viên làm việc thiết kế (có thể là KTS, chuyên viên nội thất, họa viên…) đều đóng vai trò như những “học trò” trong xưởng thiết kế ấy. Dù tự nguyện hay không, dù có “kính lão đắc thọ” hay không thì họ vẫn là những người phải vừa làm vừa học, và do đó luôn cần sự “đánh giá kết quả học tập”. Ở trong trường là điểm số, và ra đi làm vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn “học - được đánh giá - học tiếp” ấy. Điều này có mặt tích cực là tạo không khí truyền nghề, học hỏi, tương trợ lẫn nhau trong làm việc, nhưng đồng thời cũng tạo thói ỷ lại vào người đi trước (có gì sếp chịu) và sự hoang mang khi kết quả không được “điểm tốt”. Đối với KTS trẻ đang tuổi “ngựa non háu đá”, nếu phương án mình làm không được chọn, hoặc buộc phải khai triển phương án của người khác mà trong lòng mình không phục thì quả là cực hình! 
Việc coi trọng học hành (mà thực ra là coi trọng bằng cấp, thành tích) của xã hội lâu nay ăn vào nếp suy nghĩ cũng khiến quan hệ giữa người có học (bằng cấp/giải thưởng) và người ít học trong nhóm thiết kế trở nên căng thẳng. Khá nhiều công ty từng phải giải quyết các câu chuyện va chạm theo kiểu “thằng A. mới ra trường biết gì mà tinh tướng!”, hoặc “nhỏ B. đừng ỷ là kiến trúc sư có giải thưởng muốn sai khiến ai thì khiến, tui làm họa viên 20 năm kinh nghiệm rồi đó!”. Một thực tế chỉ ra rằng những người càng nhiều bằng cấp càng khó triển khai các công việc cụ thể, bởi họ gặp không ít khó khăn trong giao tiếp và tiến hành công việc với đồng nghiệp, chứ không phải họ thiếu trình độ kiến thức. Một họa viên khi nhận phản hồi về chi tiết cần sửa sẽ chỉ tập trung vào chi tiết đó, trong khi một tiến sĩ lại tập trung vào các lý do vì sao “nó” lại sửa chi tiết này của mình, ngay cả khi cái sai rành rành về phía anh ta hoặc nhóm của anh ta, thì cái phản xạ tâm lý bảo vệ mình đúng sẽ bật dậy, cái tôi được học hành bài bản cứ vang lên trong đầu, cứ ám ảnh và cứ gây các mâu thuẫn không đáng có. Bên cạnh đó, việc người Việt có thói quen ít phản biện, bằng mặt mà không bằng lòng, sức ỳ tâm lý khi đứng trước góp ý của người khác… trong một quá trình dài khiến các vấn đề nhỏ bị nén lại và bung ra khi chất chứa đủ lượng. Với một người trẻ, sự hài lòng trong công việc và chất lượng của các mối quan hệ là 2 điều khó tìm kiếm nhất trong những năm đầu đời.
Khi con người không ngừng nỗ lực tìm kiếm sự hoàn hảo mơ hồ nào đó, họ sẽ bắt đầu ngừng nỗ lực. Thời điểm họ ngừng nỗ lực có thể sớm, có thể muộn, nhưng luôn kèm theo các hoang mang và tự vấn: bấy lâu mình cố gắng để làm gì? Những sinh viên kiến trúc đạt điểm A khi ra trường thường mau thất vọng hoặc hoang mang khi hành nghề nhiều hơn là những bạn cùng trang lứa có điểm số không cao nhưng từng tham gia đi làm sớm, có hoạt động cộng đồng và ít nhiều “hiểu chuyện đời” từ năm cuối đại học. Và vì thế, câu chuyện làm sao để những cái tôi không quá sục sôi trong công ty thiết kế cần phải được bắt đầu xây dựng từ ghế nhà trường. Nếu một đơn vị tuyển dụng chỉ biết nhìn vào các bảng điểm hoặc các trang giới thiệu bản thân được làm hoành tráng theo công thức thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ chỉ nhận được những thất vọng về con người khi tiếp xúc cụ thể trong công việc thực tiễn.
Kỳ sau (kỳ cuối): Quản lý kiến trúc sư: làm, chơi và vai trò của hội nghề nghiệp. 
 
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 152

Các tin khác