Ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Tổ trưởng Tổ chuyên gia hỗ trợ công tác lập quy hoạch tổng thể TP.HCM trả lời phỏng vấn của KT&ĐS
Xin ông hãy cho bạn đọc KT&ĐS biết về kế hoạch hoạt động và “sản phẩm” cụ thể của Tổ chuyên gia đóng góp cho quá trình quy hoạch tổng thể TP.HCM với dự kiến phê duyệt trước 30.11.2026. Tổ chuyên gia sẽ làm gì trong mối quan hệ phối hợp Bộ Xây dựng, UBND TP.HCM, các sở ngành và đơn vị tư vấn trong quá trình lập quy hoạch?
Cần nhắc lại, trong quá trình làm đồ án Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung TP.HCM đến năm 2040 tầm nhìn đến năm 2060 đã được Thủ tướng phê duyệt ngày 11.6.2025, Bộ Xây dựng đã lập một tổ chuyên gia hỗ trợ công tác và đã có những đóng góp tích cực.
Trong lần làm quy hoạch tổng thề lần này, UBND TP.HCM đã lập Tổ chuyên gia và tôi được mời tham gia. Tổ gồm 26 thành viên ở Trung ương và Thành phố là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia có năng lực, có uy tín, nhiều kinh nghiệm. Có thể nói đây là đội ngũ đầy đủ chuyên gia trong các lãnh vực có liên quan đến công tác quy hoạch như kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.
Về quy chế làm việc thì tôi nghĩ thành phố đã chuẩn bị rồi. Chúng tôi sẽ sớm họp để thông qua nhiệm vụ, quy chế làm việc.
Kế hoạch dự kiến sẽ phê duyệt đồ án vào tháng 11.2026 nên chúng tôi sẽ có 3 tháng tiến hành các cuộc họp, nghiên cứu các vấn đề.
Tôi là tổ trưởng có trách nhiệm trao đổi công việc với các chuyên gia và thay mặt chuyên gia làm việc với UBND TP.HCM, với Bộ Xây dựng để nắm bắt các vấn đề quan trọng. Sau đó Tổ chuyên gia sẽ làm việc với tư vấn để nắm được chiến lược của họ. Chúng tôi phải chuẩn bị trước, mỗi chuyên gia trong góc nhìn của mình sẽ có ý kiến với tư vấn.
Về câu hỏi của KT&ĐS đề nghị nêu “sản phẩm” của Tổ chuyên gia, trước hết tôi nghĩ sản phẩm ở đây không phải là một bộ hồ sơ đóng gói theo kiểu như tư vấn được.
Sản phẩm của tổ chuyên gia sẽ là ý kiến trên cơ sở nghiên cứu, thảo luận của các chuyên gia mà ở đây tôi thấy cần đạt được hai mục tiêu cụ thể.
Thứ nhất là ý kiến về chiến lược phát triển để TP.HCM xứng tầm một siêu đô thị biển. Ý kiến đó phải xác định rất rõ vị thế của TP.HCM với quốc gia, quốc tế và với vị thế đó thì phải xác định hướng đi của thành phố.
Tổ chuyên gia phải nghiên cứu, thảo luận và có ý kiến về hàng loạt vấn đề như kinh tế biển, cảng biển, logistic; rồi các vấn đề về đô thị đa trung tâm, về cực phát triển, về giao thông...
Trên cơ sở đó phải đưa ra một chiến lược phát triển mà theo tôi chiến lược đầu tiên là vì con người hay nói cách khác là lấy người dân làm trung tâm. Mọi quy hoạch đều phải hướng đến phục vụ người dân.
Thứ hai là tổ chuyên gia phải phối hợp với Bộ Xây dựng, UBND TP.HCM để cùng chỉ đạo tư vấn đưa ra được một đồ án quy hoạch có chất lượng tốt nhất. Quy hoạch thì có nhiều phương án nhưng tổ chuyên gia phải góp phần đánh giá chỉ ra được phương án tốt nhất để lựa chọn.
Với tư cách là chuyên gia trong lãnh vực quy hoạch, theo ông, đâu là nét khác biệt lớn nhất cần nhấn mạnh về quy hoạch tổng thể TP.HCM lần này so với lần trước?
Nét khác biệt lớn nhất là ta đang tiến hành lập quy hoạch tổng thể TP.HCM sau hợp nhất theo địa giới mới rộng gần 6.800km2 quy mô 14 triệu dân gồm TP.HCM cũ (rộng 2.095km2 quy mô gần 9 triệu dân) cộng thêm cả tỉnh Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
Ba địa phương hợp nhất thành TP.HCM mới nhưng không thể lấy ba đồ án quy hoạch cũ hợp thành một đồ án quy hoạch tổng thể mới.
TP.HCM mới bây giờ là một siêu đô thị. Tư duy về quản lý phải khác xưa. Tư duy về không gian cũng phải khác xưa.
Đơn cử như nói đến kinh tế biển. Theo tôi đây là vấn đề mấu chốt để định vị TP.HCM là một siêu đô thị biển. TP.HCM cũ chỉ là hướng biển vì mới có cửa biển Cần Giờ và cảng pha sông biển Cát Lái, Hiệp Phước. Nhưng bây giờ thành phố có cảng Cái Mép - Thị Vải lớn nhất Việt Nam. Thành phố bây giờ có mấy trăm km bờ biển, có Côn Đảo.
Nói đến kinh tế biển hiện nay của TP.HCM trước hết là nói đến lợi thế khai thác dầu khí, cảng biển nước sâu, cảng pha sông biển, cảng sông, dịch vụ logistics, tiềm năng du lịch cực lớn cho cả nước và khu vực rồi kế tiếp đó mới là nuôi trồng, khai thác hải sản như các địa phương khác.
Vấn đề mới cũng sẽ phải nói đến là kinh tế tầm thấp. Ở đây tôi chỉ đề cập như một cách nêu vấn đề. Có thể hiểu đơn giản là sử dụng không gian từ độ cao từ khoảng 3.000 mét trở xuống cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận tải. Ở trên là các đường bay rồi đến taxi bay, drone... Ta cần quy hoạch, tổ chức hệ sinh thái kết nối phương tiện, dịch vụ. Cái này thế giới đã nhiều nơi làm.
Vấn đề nữa phải giải quyết trong quy hoạch lần này là không gian ngầm. Không gian này cần quy hoạch tổ chức không chỉ là giao thông metro mà còn là các không gian thương mại, sinh hoạt rất quan trọng, kết nối thương mại với đỗ xe, hạ tầng đô thị đặc biêt là ở khu trung tâm.

Cùng với cả nước, trong hơn một năm qua, hàng loạt dự án phát triển đô thị, công trình hạ tầng trọng điểm tại TP.HCM đã được triển khai bởi các đơn vị tư nhân. Quan điểm của ông về vấn đề này?
Cơ chế chính sách cũng là vấn đề tổ chuyên gia phải nghiên cứu đề xuất. Ở đây có vấn đề phân bổ nguồn lực hiện có sao cho tối ưu nhất, nhà nước nên làm cái gì, tư nhân nên đầu tư làm cái gì và cả kêu gọi vốn đầu tư từ nước ngoài nữa.
Trước hết phải nói tư nhân là nguồn vốn kinh tế, xã hội rất quan trọng. Với tư nhân, ta đã có Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về kinh tế tư nhân ban hành tháng 5.2025 nói rõ rồi. Nghị quyết 68 tạo điều kiện cho tư nhân tham gia phát triển kinh tế.
Trước đây cơ sở pháp lý chưa đủ mạnh thì nay đã có Nghị quyết 68 và nhiều cơ chế, chính sách trong khuôn khổ luật pháp đã được triển khai.
Theo tôi, nếu cái gì nhà nước cũng làm thì chắc chắn sẽ không đủ vốn trang trải. Nhà nước chỉ nên tập trung vốn và tiềm lực cho phát triển đất nước. Nhà nước nên lo an ninh quốc phòng, đầu tư cho giáo dục đào tạo, lo các hạ tầng quốc gia tối quan trọng, lo cuộc sống cho người nghèo...
Còn lại, nếu công trình, dự án tư nhân có thể làm được thì nhà nước chỉ nên “làm mồi” và tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư.
Ví dụ như công trình đường và hầm Cần Giờ - Vũng Tàu do VinGroup thực hiện vừa được khởi công. Đây là dự án tầm quốc tế đầu tư rất nhiều tiền. Nhưng không chỉ là tiền. Vấn đề kỹ thuật cũng cực khó vì đường vừa đi ngầm vừa đi trên mặt biển. Nhưng bây giờ tư nhân có vốn, có chuyên gia nước ngoài chuyển giao công nghệ. Người ta đưa ra dự án mà nhà nước đánh giá khả thi, đồng ý thì họ làm. Điều này mang lại lợi ích lớn cho giao thông trong thành phố.
Một dẫn chứng nữa là dự án đô thị bán đảo Thanh Đa - Bình Quới. Tôi là Chủ tịch Hội đồng giám khảo thi tuyển quốc tế ý tưởng quy hoạch - kiến trúc bán đảo Bình Quới - Thanh Đa và chúng tôi đã chọn phương án của SOM. Bán đảo Thanh Đa có thể nói là vị trí vàng có thể so sánh với Thủ Thiêm. Đường sông bao quanh nó còn nhiều hơn Thủ Thiêm. Bây giờ thành phố đã giao cho Sun Group theo quy trình thủ tục hiện hành. Đây là dự án mang tính chất đặc biệt về phát triển đô thị sinh thái - thương mại dịch vụ du lịch tốt. Dự án giao cho tư nhân có vốn mạnh thì sẽ làm nhanh. Ở đây nhà nước chỉ cần quản lý làm đúng quy hoạch hoàn chỉnh đã được duyệt vì cuộc thi ý tưởng quy hoạch - kiến trúc là do cơ quan quản lý nhà nước ra đề bài.
Dẫn chứng tiếp theo là hệ thống metro - đường sắt đô thị. Hiện TP.HCM mới có một tuyến, tuyến thứ hai đang làm và thành phố còn cần nhiều tuyến khác với tổng chiều dài lên đến mấy trăm km để giải quyết nhu cầu đi lại của người dân.
Thành phố cũng cần phát triển hệ thống cầu và đường bộ cho các khu đô thị mới.
Danh mục công trình này rất cần sự đóng góp của hệ thống doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện nay cũng đã trưởng thành. Chúng ta đã có những tập đoàn tư nhân mạnh của quốc gia thậm chí cả khu vực quốc tế.
Việc tư nhân đầu tư vào hạ tầng đô thị là điểm mạnh của thành phố. Hy vọng thành phố tiếp tục tạo điều kiện và có cơ chế chính sách tốt nhất để cho tư nhân có thể đóng góp cho sự phát triển của thành phố.

Danh sách Tổ chuyên gia hỗ trợ công tác lập quy hoạch tổng thể TP.HCM
1. Ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng - Tổ trưởng;
2. Bà Phan Thị Mỹ Linh, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng - Thành viên;
3. Bà Trần Thu Hằng, Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc, Bộ Xây dựng - Thành viên;
4. Ông Phan Đăng Sơn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam - Thành viên;
5. Ông Nguyễn Hồng Tiến, Chủ tịch Hội Chiếu sáng Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng - Thành viên;
6. Ông Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - Thành viên;
7. Ông Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM - Thành viên;
8. Ông Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn đột phá phát triển trường Đại học Sài Gòn - Thành viên;
9. Ông Võ Hoàng Ngân, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở Xây dựng, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM - Thành viên;
10. Ông Nguyễn Thanh Nhã, Bí thư Đảng ủy xã Tân Vĩnh Lộc, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM - Thành viên;
11. Ông Bùi Tất Thắng, Chủ tịch Hội Phát triển hợp tác Việt Nam - ASEAN - Thành viên;
12. Bà Đỗ Tú Lan, nguyên Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng - Thành viên;
13. Ông Trần Chí Dũng, Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM - Thành viên;
14. Ông Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM - Thành viên;
15. Ông Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Hội đồng Kiến trúc Hội Kiến trúc sư TP.HCM - Thành viên;
16. Bà Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, Phó Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Thành viên;
17. Ông Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam - Bộ Tài nguyên và Môi trường - Thành viên;
18. Ông Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam - Thành viên;
19. Ông Nguyễn Hữu Mạnh, nguyên Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nguyên Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - Thành viên;
20. Ông Võ Kim Cương, nguyên Phó Kiến trúc sư trưởng TP.HCM, nguyên Phó Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM - Thành viên
21. Ông Khương Văn Mười, nguyên Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam - Thành viên;
22. Ông Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) - Thành viên;
23. Ông Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP.HCM - Thành viên;
24. Ông Ngô Viết Nam Sơn, Chủ tịch NgoViet Architects & Planners - Thành viên;
25. Ông Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV kiêm Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV - Thành viên;
26. Ông Ngô Quang Hùng, Viện trưởng Viện Quy hoạch Phát triển đô thị bền vững trực thuộc Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam - Thành viên.
THEO KT&ĐS SỐ 241