Kiến tạo hạnh phúc, học ở người xưa

Lượt xem: 2379
5/2/2020 0:00 - Điểm đến
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - Bài Trầm Hương ảnh TL

Hãy lắng nghe cuộc hội thoại giữa cặp vợ chồng sau đêm động phòng hoa chúc. Có thể ấy là lúc canh ba, canh tư gì đó; sau khi cô dâu và chú rễ khám phá nhau thành công và mãn nguyện. Cô dâu trong trạng thái tràn ngập hạnh phúc, tin rằng chú rể cũng rất hài lòng về mình, rất hạnh phúc khi có được mình.

 
 
Nếu là một cô chiêu trong một gia đình giàu có, quen thói khinh người, có thể sẽ thốt lên: “Anh này, anh xem em có tuyệt vời không? Em vừa trẻ, vừa đẹp, vừa giàu, còn tìm đâu hơn nữa. Này, lấy được em là phúc ba đời nhà anh đó nhé!”. Chàng rể có thể sẽ đốp lại: “Anh cũng tuyệt vời đấy chứ. Con nhà giàu học giỏi đẹp trai như anh khối cô mê. Anh chỉ chọn em, còn đòi hỏi gì nữa. Này, đừng có đứng núi này trông núi nọ nhé!”. Cuộc hội thoại sau đêm tân hôn còn đang nồng nàn hương lửa kiểu ấy tiềm ẩn nhiều bi kịch, bất trắc. Ngoài sự mãn nguyện, ý thức về mình là sự quá yêu mình, so sánh để áp đảo, giành ưu thế riêng trong quan hệ vợ chồng và trong chừng mực nào đó, thiếu sự tôn trọng nhau. Những cặp vợ chồng thời xưa có ứng xử thật tế nhị, văn minh hơn thời công nghệ bốn chấm nhiều. Càng yêu thương nhau, vợ chồng càng kính nhau như khách. Đây là lời thỏ thẻ của người vợ:
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng,
Cau xanh ăn với trầu vàng, xứng chăng?

Người chồng đáp:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Rõ ràng, nhờ sự tôn trọng nhau, biết sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả mà cuộc hội thoại đôi vợ chồng rất thành công, làm đẹp lòng vừa ý cả đôi bên. Cô dâu rất biết chọn thời khắc để bày tỏ tình cảm. Nếu như lời lẽ này xảy ra lúc đầu hôm thì không phù hợp chút nào. Phải đợi đến đêm khuya thanh vắng, khi chú rể đã bình tĩnh hơn sau giấc ngủ mê mệt vì hạnh phúc, lời thủ thỉ của cô dâu mới thực sự có ý nghĩa. Qua ngôn ngữ, người nghe dễ dàng nhận ra đây là một cô dâu thông minh, có học, được giáo dục. Cô dâu rất ý thức về mình, cũng không ngần ngại bộc lộ mình nhưng cô dùng lối ẩn dụ, ví mình với cau xanh. Cô dâu tin chắc là chồng mình hiểu cả “trầu vàng” lẫn “cau xanh” đều ngon. Sự gián tiếp ấy khiến cô vừa khiêm nhường nhưng cũng đạt được mục đích tôn vinh bản thân mình và chồng, vừa bày tỏ cô rất mãn nguyện được sóng bước bên chàng. Còn người chồng cũng không kém phần thông minh, khôn khéo. Khả năng ngôn ngữ của chú rễ có phần trội hơn, chàng không dùng cái cụ thể mà đi vào cái trừu tượng. Danh từ trừu tượng “duyên” và “tình” thật mênh mang, làm sao đếm được, như tình chàng dành cho nàng, sâu thẳm lắm, không thể cân đong đo đếm. Rõ ràng, cuộc hội thoại của đôi vợ chồng “cau xanh”, “trầu vàng” này mở ra triển vọng của một cuộc hôn nhân toại nguyện, hạnh phúc. 
Lại có thôn nữ giỏi ca dao hò vè mà chuốc lấy tai họa khôn lường. Bà Trương Thị Bông ở Đức Hòa, Long An sống ở đầu thế kỷ 20 rơi vào một hoàn cảnh rất đau lòng. Bà Bông vốn quê ở xã Tân Thới Thượng, Hóc Môn, lấy chồng là ông Nguyễn Văn Trí về làm dâu Đức Hòa. Vốn là một phụ nữ có tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, yêu thích thơ ca hò vè nên vào một ngày đẹp trời, khi dỗ con ngủ, bà Bông hồn nhiên ngâm nga bài hát ru mà thời con gái thường hò đối đáp qua lại trong vạn cấy:
Ầu ơ… ơ … ngày mai lên thẳng rừng vồng
Kiếm gan công, mật cóc, thuốc chồng theo anh!

Nghe con dâu hát ru, mẹ chồng của bà Bông đang ngồi uống trà đùng đùng nổi giận. Bộ tách trà thường ngày bà rất quý trong phút chốc vỡ tan tành trên sàn nhà. Hiểu ra sự việc, người mẹ trẻ xanh mặt vì sợ hãi. Vì câu hát ấy mà bà bị mẹ chồng đuổi ra khỏi nhà. Mẹ chồng cho nàng dâu là hạng phụ nữ dâm loàn, lang tâm trắc nết, không xứng với gia đình danh giá của bà. “Thứ đàn bà này để trong nhà là mầm mống tai họa, “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà”. Tao không muốn con trai tao bị mày thuốc chết bằng gan công, mật cóc để theo trai. Tao trả mày về cho con gái mẹ mày dạy lại. Mày cũng không được đụng tới cháu nội của tao!”. Bà mẹ chồng không tiếc lời mắng nhiếc, sỉ vả, mặc lời thanh minh, cầu khẩn của nàng dâu, mặc tiếng khóc thống thiết khi tình mẫu tử bị chia lìa. Nàng dâu đáng thương ấy bị xua đuổi ra khỏi nhà chồng, tài sản không có gì hơn một tay nải quần áo, chiếc nón rách đội nghiêng trên đầu lầm lũi bước đi… Cũng chỉ vì một câu hát mà người mẹ chồng cố chấp bắt nàng dâu “trắc nết ” lội bộ cả ngày đường, trả về nhà cha mẹ ruột. Chồng bà Bông rất thương vợ nhưng cũng đành bất lực truớc sự kiên quyết của mẹ. Ít lâu sau, ông lén mẹ đi bộ về Hóc Môn thăm vợ. Bà Bông lại có mang đứa con thứ hai. Quá thương vợ, ông ở lại Hóc Môn với bà Bông. Bà mẹ chồng hay được đùng đùng nổi giận. Bà lên Hóc Môn trị tội “thằng con trai bất hiếu” bằng 100 cây roi mật cật rồi bắt về Đức Hòa cưới vợ khác. Từ đó, đôi uyên ương đành phải chia lìa… 
 
 
Từ xưa đến nay thân phận người phụ nữ Việt Nam luôn gắn với câu ca dao “Thân cò lặn lội bờ ao/Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
 
Tôi gặp không ít người xưa khuyên con cháu biết nhẫn nhục, tha thứ, bao dung trong hạnh phúc lứa đôi, đừng để “già néo đứt dây”, đổ vỡ hôn nhân sẽ kéo theo bao điều tan nát. Bà Phạm Thị Chiếm, khi tôi gặp đã 97 tuổi ở Mộc Hóa, Long An thuộc cả trăm bài vè. Bà đọc một mạch bài vè về mẹ ghẻ rất dài. Có lẽ vì mới lên năm, bà mồ côi mẹ, được cha gửi về ở với ngoại. Mới 7 tuổi, ngoại chết, cô bé đành phải về sống với người mẹ ghẻ. Tuổi thơ của một cô bé mồ côi mẹ có biết bao mất mát, thua thiệt. 16 tuổi, cô lấy chồng, về làm dâu nhà một cai tổng. Đời đã dạy cho bà chữ nhẫn trong hôn nhân sắp đặt: “Ban ngày làm việc quần quật, tối phải giã ba cối gạo, rồi đốt đèn may vá, 3 giờ khuya “qua” phải thức dậy tưới rau. Lư đồng trong nhà một tay “qua” chùi sáng bóng. Gạo nấu ăn sáng cho cha mẹ chồng phải nấu bằng loại ngon nhứt. Trưa, khi mẹ chồng ngủ, “qua” phải nấu món gì đó ngon ngon cho cha mẹ chồng thức dậy có cái ăn. Vì nhà xa chợ nên lúc nào “qua” cũng trữ sẵn bột mì tinh, hạt sen để nấu chè cho mẹ chồng. Nhờ khéo tay, biết nấu nướng, “qua” làm được nhiều món ngon, cha mẹ chồng vừa miệng lắm… “Qua” làm dâu có cực chớ không bị đánh đập. Nói nào ngay, nhà chồng “qua” khó chớ không hung dữ, độc ác. Nhà cô Hai ở hàng xóm khổ lắm. Chính mắt “qua” nhìn thấy mẹ chồng cổ đổ nguyên ơ mắm kho lên đầu cổ. Tối, trước khi đi ngủ, nhà chồng giao phải đương đủ 3 cái “cà ròn”. Suốt ngày làm lụng chẳng được ngả lưng, tối, cổ buồn ngủ quá. Vậy mà cổ không dám đi ngủ, lấy tóc cột lên xà nhà để khỏi ngủ gục, cho đến khi đan đủ ba chiếc cà ròn”. Bà cười món mém nói: “Lấy chồng, làm dâu khổ cực như vậy chớ… con gái mới 16, 17 tuổi cũng đã đâu vô đó hết. Cô nào quá 20 coi như lỡ thì. Đàn bà con gái ế chồng, lỡ thì cũng khổ lắm. Để “qua” đọc cho các cháu nghe nghen: Rượu lưu ly chân quỳ tay rót/ Cha mẹ mãn rồi, em dời gót theo anh/ Ghe bầu chở lúa buồm dong/ Con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi. Bà cười hóm hỉnh đọc tiếp: Mẹ tui có kẻ hầu nuôi/ Tui theo chú lái cho xuôi một bề. Đàn bà con gái thời “qua” đã yên bề rồi thì đâu có ly dị như bây giờ. Chén dĩa trong sóng còn xô huống chi vợ chồng. Hổng lẽ mỗi lần đạp… là mỗi lần chặt chưn sao cháu?”. Bà nói thêm: “Đàn bà con gái bây giờ sướng quá sinh tệ, cái gì cũng có sẵn. Có “làm dâu” cũng hỏng bằng cái móng tay hồi xưa, cứ thương chồng là chịu đựng được hết”. 
Phụ nữ hiện đại ngày nay là phải biết phũ chồng, để chồng nhìn thấy giá trị người vợ mà điều chỉnh bản thân. Phụ nữ ngày nay không cam chịu như xưa. Thế hệ bà và mẹ tôi lại lấy chữ nhẫn để kiến tạo hạnh phúc. Tôi nhớ hoài lời mẹ khuyên tôi: “Chứ nhẫn là chữ tượng vàng”. Tôi đã đi qua những năm tháng nhọc nhằn, bảo giông cuộc đời bằng chữ nhẫn ấy.
 
 
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 164