PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi trong buổi trao đổi với phóng viên KTĐS tháng 8.2025. Năm nay ông 86 tuổi, đang nghỉ hưu ở TP.HCM
Bối cảnh lịch sử và câu chuyện thiết kế búa liềm trên cở Đảng trong Lăng Bác
Trước hết, cần nhắc lại, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi là người đã đưa ra ý tưởng và trình bày phương án đề xuất thay đổi thiết kế Quảng trường Ba Đình từ nền bê tông chuyển sang dùng thảm cỏ trước các thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và kiến trúc sư Garon Ixacovich, người chủ trì thiết kế Lăng. Câu chuyện đã đăng trên Kiến trúc & Đời sống số 136 xuất bản tháng 9.2017.
Bối cảnh của giai đoạn đó là từ 1970 đến 1973, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trải qua các khâu tổ chức thi thiết kế, tuyển chọn, trưng bày cho đồng bào góp ý. Sau đó tuyển lại thành phương án thiết kế sơ bộ đưa sang Liên Xô để chỉnh sửa ra bản thiết kế chính thức và được Bộ Chính trị phê duyệt. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh do Viện Nghiên cứu thiết kế thuộc Cục Tổ chức Xây dựng Matxcơva thực hiện cùng các Viện thiết kế chuyên ngành khác. Chủ trì thiết kế là kiến trúc sư Garon Ixacovich, người từng được nhận giải thưởng Lênin về thiết kế công trình lưu niệm ở thành phố Ulianopxco, quê hương Lênin. Theo kế hoạch ban đầu thì Lăng được khởi công vào mùa khô năm 1972 nhưng do tháng 4.1972, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc nên phải hoãn lại. Sau Hiệp định Paris, việc xây dựng Lăng được khẩn trương chuẩn bị và chính thức khởi công ngày 2.9.1973.

Ông Vũ Kỳ, người đứng bên phải nguyên là thư ký của Bác Hồ, Ủy viên Ban Chỉ đạo xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các lãnh đạo ban ngành xem xét quy hoạch khu Trung tâm Ba Đình lịch sử
Cũng vào năm 1973, trở về nước sau khi bảo vệ luận án tiến sỹ tại Liên Xô, TS Nguyễn Khởi quay lại Viện Thiết kế Dân dụng và được phân công biệt phái sang làm trợ lý cho ông Vũ Kỳ, nguyên là thư ký của Bác Hồ, lúc đó là Ủy viên Ban Chỉ đạo xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Viện trưởng Thiết kế Dân dụng thời điểm đó là KTS Nguyễn Ngọc Chân, người chủ trì phía Việt Nam tham gia thiết kế và theo dõi việc xây dựng Lăng.
Với tư cách là trợ lý của ông Vũ Kỳ, là người có chuyên môn kiến trúc và sử dụng được tiếng Nga, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi thường được tham gia các buổi làm việc với chuyên gia Liên Xô trong nhiều công việc liên quan đến thiết kế, xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình và sau này là cả Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Đoàn chuyên gia thiết kế Lăng Bác gồm các kiến trúc sư Việt Nam và Liên Xô tại Matxcơva năm 1970. KTS Nguyễn Thọ Chân, trưởng đoàn (đứng thứ tư từ phải sang), KTS Nguyễn Khởi (đứng thứ hai từ trái sang)
Câu chuyện thiết kế búa liềm bắt đầu vào cuối năm 1973 đầu năm 1974. Một hôm ông Vũ Kỳ nói với PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi yêu cầu thiết kế cờ Tổ quốc và cờ Đảng trong phòng đặt thi hài Bác. Lúc đó, cờ Tổ quốc đã có kích thước thống nhất, cờ hình chữ nhật chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, ngôi sao vàng năm cánh nằm trong đường tròn ở giữa tâm, có bán kính bằng 1/5 chiều dài lá cờ. Cờ Đảng thì chưa có mẫu thống nhất, cũng là búa liềm nhưng mỗi nơi vẽ mỗi khác. Vấn đề đặt ra là thiết kế cờ Đảng thế nào để tạo thành chuẩn thống nhất và cần vẽ búa liềm là của Việt Nam.
PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi kể, “tóm lại, mô tả một cách ngắn gọn thì nhiệm vụ thiết kế giao cho tôi là chuẩn hóa kích thước cờ Đảng và vẽ cho ra búa liềm Việt Nam. Công việc đầu tiên tôi làm sau khi nhận nhiệm vụ là đi thu thập các mẫu búa liềm từ thực tế. Hoàn cảnh lúc ấy chỉ có thể thu thập ở miền Bắc. Trong quá trình thu thập tôi mới thấy các mẫu búa và đặc biệt là liềm khác nhau rất nhiều, mỗi tỉnh mỗi khác, mỗi vùng mỗi khác. Tôi phải vẽ đi vẽ lại các mẫu búa liềm đó trong nhiều ngày. Hồi đó tôi dùng tốn nhiều giấy lắm. Cuối cùng tôi cũng vẽ ra được 3 phương án để đưa ông Vũ Kỳ trình duyệt ở cấp cao hơn”.
Kết quả là cả 3 phương án đều chưa đạt. Chỉ đạo của cấp trên được ông Vũ Kỳ truyền đạt lại, búa liềm là biểu trưng cho sự liên kết công nông, lực lượng nòng cốt của cách mạng. Phương pháp sáng tác là hiện thực nhưng hiện thực không có nghĩa là sao chép một cách máy móc, không được tự nhiên chủ nghĩa. Hình ảnh búa, liềm phải được cách điệu hóa, phải đẹp và có tính nghệ thuật.
PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi tâm sự, “tôi lắng nghe và coi chỉ đạo đó là phương châm sáng tác. Tôi hiểu được ý nghĩa lớn lao của công việc và từ đó, vẽ thanh thoát hơn”.
Sau thời điểm đó, mỗi khi vẽ xong tác phẩm, KTS Nguyễn Khởi đều đưa ông Vũ Kỳ xem xét, góp ý về chỉnh sửa để hoàn thiện rồi đưa ra góp ý tiếp. Sau vài tháng với nhiều chỉnh sửa, cuối cùng cũng gút lại một mẫu được lãnh đạo duyệt.
Bản vẽ của KTS Nguyễn Khởi có chú thích tỷ lệ kích thước búa liềm trên cờ Đảng được thi công trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là ảnh chụp in trên giấy, ảnh hiện đang được tác giả Nguyễn Khởi lưu giữ
Từ mẫu được duyệt, tác giả phải chuẩn hóa lại kích thước để đưa vào thực hiện. Theo PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi, bên trong phòng đặt thi hài Bác, tường ốp đá cẩm thạch, trên tường phía đầu Bác có cờ Tổ quốc và cờ Đảng. Như đã nói ở trên, cờ Tổ quốc hình chữ nhật chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, ngôi sao vàng năm cánh nằm trong đường tròn bán kính R = 1/5 chiều dài ở tâm của lá cờ. Tương ứng với cờ Tổ quốc, cờ Đảng cũng có kích thước tương tự, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, hình búa liềm nằm trong hình vuông ngoại tiếp với đường tròn bán kính R = 1/5 chiều dài của cờ. Cán búa và cán liềm có hai trục đối xứng là hai đường chéo của hình vuông. Đỉnh của liềm chạm và kết thúc trên trục thẳng đứng qua tâm đường tròn.
Đến đây KT&ĐS cũng xin được mở ngoặc thông tin thêm đến quý độc giả, người thiết kế chữ "Không có gì quý hơn độc lập tự do" trong Lăng Bác là KTS Nguyễn Tấn Vạn quê ở Quảng Ngãi, cũng là đồng hương với KTS Nguyễn Khởi.
Việc thi công cờ Đảng và cờ Tổ quốc trong Lăng hiện có nhiều tài liệu đề cập. Ở đây, chúng tôi trích tài liệu thứ nhất là bài phỏng vấn GS.TS Nguyễn Mạnh Kiểm, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng từ 1997-2002, nguyên là Viện phó Viện Thí nghiệm Vật liệu xây dựng đã tham gia thi công công trình Lăng Bác từ những ngày đầu. Trong bài“Về Lăng viếng Bác, nhớ người dựng xây” trên Tạp chí Người Xây dựng, cơ quan của Tổng hội Xây dựng Việt Nam số 225 tháng 7.2010, ông Nguyễn Mạnh Kiểm cho biết: “Đá ngọc bích màu đỏ được chọn làm cờ Tổ quốc và cờ Đảng trong Lăng là từ Bá Thước, Thanh Hóa. Đá nền của hai lá cờ là đá Non Nước từ Đà Nẵng gửi ra. Đá vàng làm ngôi sao và búa liềm là đá Cẩm Vân, Thanh Hóa. Miền Nam cũng gửi ra hai mẫu đá đỏ và đá vàng mã não”.
Tài liệu tiếp theo là tham luận của Đại tá Phạm Tuấn, Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trích từ kỷ yếu Tọa đàm:“Phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” diễn ra ngày 5.8.2015. Đại tá Phạm Tuấn mô tả, “Tường phía đầu phòng Bác nằm là hai lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc được ốp từ 4.000 mẩu đá nhỏ màu đỏ tươi. Đá lấy từ vùng Bá Thước, Thanh Hóa. Diện tích hai lá cờ là 32m2. Đá vàng dùng để ghép ngôi sao và hình búa liềm cũng khai thác ở Thanh Hóa. Phía đầu cán búa của cờ Đảng và chính giữa ngôi sao cờ Tổ quốc là hai mẩu đá mã não màu vàng quý hiếm của đồng bào miền Nam gửi ra kính dâng lên Bác”(2) .
Đã 51 năm trôi qua, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi vẫn giữ được bản vẽ và cờ Đảng in trên giấy in ảnh đựng trong một phong bì giấy mỏng đã ngả vàng.
Câu chuyện của ông đưa chúng ta trở về những ngày mới khánh thành Lăng Bác và những buổi Lễ duyệt binh diễn ra trên Quảng trường Ba Đình từ 50 năm trước.
Ảnh chụp thực tế lá cờ Đảng sau khi hoàn thành thi công bên trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh được scan từ tư liệu gốc hiện do PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi lưu giữ
Nhớ lại những kỷ niệm về các Lễ duyệt binh trên Quảng trường Ba Đình
PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi xuất thân trong một gia đình có tinh thần hiếu học, có truyền thống cách mạng ở xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (cũ) này thuộc xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Thân phụ của PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi là liệt sỹ Nguyễn Khiển, tham gia Cách mạng từ 1930. Ông từng vận chuyển vũ khí để chuẩn bị Khởi nghĩa Ba Tơ tháng 3.1945. Sau Cách mạng tháng 8.1945, ông làm Bí thư lâm thời Huyện ủy Sơn Tịnh. Trong kháng chiến chống Pháp, có thời gian ông lên Gia Lai - Kontum vận đồng đồng bào chống Pháp rồi trở lại đồng bằng làm cán bộ ngân hàng Liên khu 5. Năm 1954, khi nhiều cán bộ đi tập kết, ông ở lại quê hương làm Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Quảng Ngãi. Thời kỳ này ông có bí danh là Nguyễn Kim. Năm 1956, ông hy sinh trong một lần đi công tác bị phục kích. Ông Nguyễn Khiển là anh ruột của Trung tướng Nguyễn Đôn, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 4, Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy và Tư lệnh Quân khu 5, nguyên Chính trị viên đội du kích Ba Tơ.
KTS Nguyễn Khởi là anh cả trong gia đình, từ Quảng Ngãi tập kết ra Bắc, đi Liên Xô học đại học kiến trúc, tốt nghiệp năm 1966, về nước làm tại Viện Thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng). Năm 1969, ông sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tiến sỹ chuyên ngành kiến trúc tại Đại học Kiến trúc Matxcơva. Năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ rồi về nước, quay lại Viện Thiết kế Dân dụng sau đó được phân công biệt phái làm thư ký cho ông Vũ Kỳ như đã nói ở trên. Sau năm 1985, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi vào định cư ở TP.HCM, giảng dạy tại Đại học Kiến trúc TP.HCM và một số trường đại học khác, đồng thời làm Tổng biên tập Tạp chí Kiến trúc & Đời sống của Hội Kiến trúc sư TP.HCM từ 2006 đến 2021.
Em ruột kế tiếp của PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi là Nguyễn Khả bảo vệ luận án tiến sĩ toán-lý năm 30 tuổi tại Đại học Tổng hợp Leningrad, Liên Xô. TS Nguyễn Khả có thời gian công tác tại Cục cơ yếu Bộ Tổng tham mưu và Đại học Kỹ thuật quân sự - Bộ Quốc phòng. Sau đó, TS Nguyễn Khả chuyển sang dân sự, làm Phó chủ nhiệm Khoa toán - Đại học Sư phạm TP.HCM từ 1990 đến 2001.
Người em thứ ba là Nguyễn Kim Hiệu, từ Quảng Ngãi tập kết ra Bắc, có thời gian du học ở Trung Quốc nhưng do Cách mạng văn hóa nên về học Khoa điện - Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông Nguyễn Kim Hiệu bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành tự động hóa tại Đại học Bách khoa Leningrad. Sau tốt nghiệp, ông công tác trong binh chủng Công binh, Bộ Quốc phòng. Khi ra quân, về lại quê hương, TS Nguyễn Kim Hiệu từng làm Trưởng ban Quản lý KCN Dung Quất (nay là KKT Dung Quất) và các KCN Quảng Ngãi rồi Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi (2001-2006).
Ảnh chụp năm 1996 ở quê nhà Quảng Ngãi. Từ trái sang: TS Nguyễn Khả, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi, TS Nguyễn Kim Hiệu, Đại tá Nguyễn Kim Hồ
Người em út là Nguyễn Kim Hồ tập kết ra Bắc theo đường Trường Sơn. PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi cho biết, ông Nguyễn Kim Hồ ra đến Vinh, Nghệ An đúng ngày Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc 5.8.1964(3). Kỷ niệm được nhắc đến trong gia đình là ông Nguyễn Kim Hồ đã may mắn sống sót qua những trận bom ở Vinh. Sau đó Nguyễn Kim Hồ học ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi rồi đi bộ đội, học điều khiển tên lửa trong binh chủng tên lửa thuộc Lực lượng Phòng không - Không quân. Ông Nguyễn Kim Hồ từng tham gia bảo vệ cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa góp phần bắn rơi máy bay Mỹ ngày 13.4.1972 rồi sau đó tham gia bảo vệ Hà Nội. Ông Nguyễn Kim Hồ nghỉ hưu khi là Đại tá, Chủ nhiệm Phòng không Quân khu 5.
Nhắc đến người em út là đại tá Nguyễn Kim Hồ, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi nhớ lại, khi tham gia bảo vệ thủ đô trong trận đánh ngày 10.5.1972, ông Nguyễn Kim Hồ góp phần bắn rơi máy bay Mỹ nên được tuyên dương trên báo Nhân dân. Trong Lễ duyệt binh ngày 1.5.1973 mừng thắng lợi của Hiệp định Paris, ông Nguyễn Kim Hồ được tham dự duyệt binh trong đội ngũ quân chủng Phòng không - Không quân. Đó là buổi duyệt binh sau cùng diễn ra trên Quảng trường Ba Đình với lễ đài cũ. Sau duyệt binh, Lễ đài cũ được tháo dỡ ngày 19.6.1973 và 2.9.1973 chính thức khởi công xây dựng Lăng Bác(4) .
Ngày 29.8.1975, Lăng Bác được khánh thành và ngày 2.9.1975, diễn ra Lễ duyệt binh mừng 30 năm Quốc khánh và Thống nhất đất nước. Đây là buổi duyệt binh đầu tiên diễn ra trên Quảng trường Ba Đình có lễ đài mới gắn liền với Lăng Bác.
Do những đóng góp trong quá trình xây dựng Lăng, cả PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi và TS Nguyễn Kim Hiệu đều được mời tham dự Lễ duyệt binh ngày 2.9.1975 tại khán đài B.
Chuyện của PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi đã kể ở trên còn câu chuyện của TS Nguyễn Kim Hiệu mới được ông chia sẻ trên báo Quảng Ngãi: Tháng 5.1972, TS Nguyễn Kim Hiệu được điều về làm chuyên viên kỹ thuật Trung đoàn 259B - Bộ Tư lệnh Công binh để chuẩn bị xây dựng Lăng Bác. Từ tháng 3.1973 đến tháng 10.1978, TS Nguyễn Kim Hiệu cùng đồng đội thiết kế, lắp đặt, vận hành Lăng Bác với chức danh là Đội phó, rồi Đội trưởng Đội Điện và Tự động, thuộc Đoàn Lắp máy 195 - Bộ Tư lệnh Công binh. Đoàn Lắp máy 195 sau này được biên chế trong Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng.
TS Nguyễn Kim Hiệu nói trên báo Quảng Ngãi: “Lòng chúng tôi dâng trào niềm tự hào bất tận khi ngắm nhìn những hình ảnh hào hùng của dân tộc. Đó là những đoàn quân hùng dũng, đội ngũ chỉnh tề; những đoàn người bước đều theo khối xếp hàng hình chữ nhật. Họ là cán bộ, công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, sinh viên, các cháu thiếu niên diễu hành qua lễ đài”(5) .
Bản thân PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi và các em của ông đều là những người thành đạt trên con đường học vấn, sự nghiệp. Những đóng góp của gia đình và cá nhân ông cho sự nghiệp chung thật đáng trân trọng.
Không muốn nói về gia đình và bản thân, nhưng nhân dịp kỷ niệm 80 năm Quốc khánh, 50 năm khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi cũng phá lệ với “báo nhà” Kiến trúc & Đời sống. Ông xúc động chia sẻ cơ duyên tham gia công trình lịch sử là Lăng Bác Hồ và kỷ niệm người thân trong gia đình có cơ hội tham gia Lễ duyệt binh ngày 1.5.1973 rồi ngày 2.9.1975 trên quảng trường Ba Đình.
Xin cám ơn ông đã cung cấp tư liệu, thông tin quý giá để bạn đọc biết thêm về một công trình kiến trúc, một địa danh có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta.
TS Nguyễn Kim Hiệu với Bằng khen do đã có công đóng góp xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh chụp tháng 5.2025 của Báo Quảng Ngãi
Chú thích
2. Quá trình xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Công trình đặc biệt, có ý nghĩa chính trị, văn hóa, Trích tham luận của Đại tá Phạm Tuấn, Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kỷ yếu Tọa đàm: “Phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” tổ chức ngày 5.8.2015
3. Theo cuốn “Học sinh miền Nam: Tư liệu và Kỷ niệm” do Cao Văn Dũng chủ biên, NXB Văn hóa Văn nghệ ấn hành năm 2016, trong “Danh sách các học sinh ra Bắc năm 1964-1965 do T64 quản lý”, trang 370-371 có tên của học sinh Nguyễn Kim Hồ quê Tịnh Bình, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi ghi ngày nhập trại là “tối 16.8.1964”
4. Quá trình xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Công trình đặc biệt, có ý nghĩa chính trị, văn hóa, Trích tham luận của Đại tá Phạm Tuấn,… (tài liệu đã dẫn ở trên)