
Hè-thu 2026 Hà Nội có nhiều đề tài thời sự. Quy hoạch tầm nhìn 100 năm, chuyện đại lộ cảnh quan sông Hồng chưa “nguội” thì không gian Hồ Gươm lại “nóng”. Có mặt ở Hà Nội giữa những ngày này, bên cạnh việc tìm hiểu, hẹn hò với các nhà chuyên môn quy hoạch-kiến trúc, tôi dành thời gian đến thăm chị Hoàng Việt Hằng.
Chị hỏi tôi ra Hà Nội ở đâu. Nghe tôi nói tên chung cư đang trú ngụ chị bảo ngay: “Ôi em ơi, Hà Nội bây giờ toàn tên Tây kiểu Grand, Times, Royal với Plaza, Park. Chị chả phân biệt được cái nào với cái nào”.
Nói vậy nhưng hóa ra chị đã viết về những dự án mới toàn tên tiếng Tây.
Trong tản văn Tiếng gọi cửa vẫn còn nao dạ chị viết Hà Nội có những Grand, Times, Royal... với “hành lang rộng, sáng choang, căn hộ nào cũng có chuông, những cái ấn nút ấy đã thay cho tiếng gọi cửa”. Nghe tiếng chuông, chị nhớ thời đến nhà ai cũng phải gọi tên. Chị dẫn chứng, bà Cúc, vợ nhà văn Tô Hoài hẹn chị,“Tết cháu đến chơi, nhớ gọi cửa. Dạo trước, họa sỹ Phan Kế An đến chơi, ông ấy gọi cửa là biết ngay, cứ Hoài ơi Hoài”. “Nghe ông ấy gọi bạn, nhà ấm hẳn lên”, bà Cúc bảo.
Có vẻ như chị Hoàng Việt Hằng vẫn chưa thoát được ra khỏi Hà Nội thời bao cấp. Đọc sách mà như đang nghe chị rì rầm kể, chuyện gì cũng có thể liên tưởng về quá khứ và dù nhìn dưới góc độ nào thì phần nhiều vẫn là chuyện đô thị, phố phường, nhà cửa. Cuốn sách có nhiều yếu tố tự truyện. Chị chia sẻ về cuộc đời chị, về Hà Nội của chị như những gì chị đã thấy, đã sống.
Ngôi nhà được chị nhắc tới nhiều lần là “nhà số 4”. Đó là trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi có cây đại già, nơi từng in dấu chân Thanh Tịnh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh... và anh Triệu Bôn, chồng chị.
Chị kể,“Đó là căn phòng cuối cùng của ngôi nhà cổ, nhà số 4 Lý Nam Đế. Tôi nhớ rõ những lần lên tới cầu thang gỗ nhà số 4, tôi phải nín thở, nhón chân nhẹ nhàng, không được để cho chiếc guốc nhựa vang ra tiếng động trên cầu thang gỗ. Nếu nghe thấy, hẳn là ông nhà văn H, hay ông nhà văn T... sẽ thò đầu ra cửa phòng làm việc, thì hôm sau anh Triệu Bôn sẽ lại được lôi tên ra trong cuộc họp kiểm điểm. Ở thời điểm đó nếu rút guốc ra khỏi chân, nhẹ nhàng vào phòng anh Bôn ở cuối hành lang, là thoát một lần anh Bôn không bị khiển trách. Mỗi khi được ngồi bên nhau, có khi chỉ ăn một tý cơm cháy ở bếp tập thể và được nói chuyện văn chương, cũng thích lắm. Tuyệt lắm”. (Dưới cây hoa đại nhà số 4)(*)
Bây giờ ở Hà Nội chắc không còn cơ quan nào dồn tất cả nhà ở cho cán bộ công nhân viên, văn phòng làm việc, phòng họp... vào một tòa nhà trụ sở vốn ban đầu không được thiết kế cho những công năng như vậy.
Yêu nhau tại cơ quan rồi cưới nhau cũng ở nhờ cơ quan. Trong Valentine một ngày và một đời, chị kể, sau đám cưới, do không có nhà nên từ năm 1985, anh chị ở nhờ trên nóc khu vệ sinh của Hội Văn nghệ Hà Nội, số 19 Hàng Buồm. Nơi ở nhờ không có nước. Do anh thường làm việc khuya nên hàng ngày, chị đảm nhận việc thức từ 2 giờ, rải 80 mét ống dây bơm nước đến 4 giờ sáng mới có 1 phuy nước để dùng nấu ăn và giặt giũ trong ngày... Có một năm, đêm Valentine, nhà văn Triệu Bôn cặm cụi một mình rải 80 mét dây bơm nước từ nhà ra hè phố, hì hụi cả đêm một mình để cho vợ ngủ. Không quà tặng, không một bông hoa hai mươi năm chung sống, có mỗi một lần chồng tặng vợ một đêm ngủ trọn giấc không phải dậy bơm nước trong 9 năm sống ở phố cổ.
Ở năm 2026 này, thế hệ cư dân mới đang sinh sống trong những khu đô thị hiện đại ở Hà Nội có lẽ khó hình dung về thời bao cấp như vậy. Nhắc lại chuyện đêm Valentine đi bơm nước, có lẽ mọi người sẽ đùa vui mà bảo, đó là món quà Valentine độc đáo nhất quả đất mà nhà văn Triệu Bôn tặng vợ là nhà văn-nhà thơ Hoàng Việt Hằng.
Thời bao cấp, nhiều nhà văn, nhà thơ danh tiếng ở Hà Nội cũng sống gian khổ như vậy.

Chị Doanh, vợ nhà văn Nguyễn Minh Châu kể, “anh Châu thèm ăn cơm với cá biển rim nước mắm ngon”. Nhưng ngày đó cá thì ít, con thì đông. Vào bữa anh nói, “bố vừa ăn tiệc bên nhà số 4 rồi, các con ăn hộ bố nhé”. Sau chị Doanh hỏi thăm một chị cùng cơ quan mới hay có tiệc tùng gì đâu. Thì ra là anh nhường cho vợ con. Sau ngày anh mất, chị làm di cảo tác phẩm Nguyễn Minh Châu, bè bạn viết về anh, sách in ra chị để sách và món cá biển rim lên bàn thờ cho anh.
Sống thiếu thốn nhưng chị Doanh bảo, đời chị thấy giây phút hạnh phúc nhất của mình là khi anh Châu mở cửa về nhà. Có khi anh viết xong từ nhà số 4 về, có khi anh đi thực tế về, cứ thấy anh mở cửa nhà là chị thấy hạnh phúc. Thì ra hạnh phúc đơn sơ thế thôi có gì to tát đâu. (Vợ nhà văn, phía sau những cánh đồng chữ)(*)
Những ngày xưa gian khổ vẫn đong đầy yêu thương, hạnh phúc. Đó là một ký ức không nhòa, những ngày của còi báo động và còi báo yên; những ngày thiếu thốn và tem phiếu cùng cực, con người vẫn thương yêu nhau hơn thời buổi bây giờ. Và từng có biết bao thế hệ trưởng thành và thành đạt, họ có điểm xuất phát từ ước mơ trong thiếu thốn và nghèo khó, vốn dĩ ở chung cư cũ kỹ ấy. (Nhà tập thể cũ dốc Thọ Lão)(*)
Thành phố có nhiều đổi thay, có dự án, cầu vượt, đường cao tốc... nhưng ngược chiều phố cũ, nhà cũ, dấu lặng cũ vẫn còn đấy, giá trị không tính được bằng vàng.
Trong Phố cũ, nhà cũ, dấu lặng cũ, chị Hoàng Việt Hằng đưa người đọc đến một ngõ nhỏ ở phố Đoàn Nhữ Hài, thăm ngôi nhà cũ hai tầng của nhà văn Tô Hoài. Chủ nhân không màng nội thất cao sang. Hình như giá trị vật chất đang đứng ngoài cánh cửa kia. Ông Tô Hoài có thói quen viết vào buổi sáng, buổi chiều đọc sách báo và đi thăm bạn hữu, khi có nhuận bút, đưa bạn đi uống bia rồi lại đưa bạn về. Một thời, nhà văn Nguyễn Văn Bổng mắt kém, vẫn vịn vai Tô Hoài đi uống bia ở cuối phố Nguyễn Du, bên mạn hồ Thiền Quang.
Những trang sách của Hoàng Việt Hằng dẫn ta về Hà Nội một thời xa vắng đọng lại thật nhiều yêu thương.
(*) Tên các tản văn trong sách “Thời gian trong cõi tạm” của nhà văn Hoàng Việt Hằng.
THEO KT&ĐS SỐ 244